Thứ năm, 31/07/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 7/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý VBQPPL ngày 18/6/2014
( 06.06.14 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay685
mod_vvisit_counterTất cả322323
Hoạt động xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL



Ngiên cứu, trao đổi: Bàn về cách ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong tác biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính
Thứ năm, 24 Tháng 7 2014 22:22
Xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính nói riêng là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của Nhà nước. Đây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Nhằm phát huy vai trò của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, ngày 19/7/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó có danh mục một số biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP bước đầu đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhất là đối với những quy định chưa được cụ thể hóa trong Luật. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính một cách chính xác, đúng các nguyên tắc xử lý theo quy định của Luật thì Nghị định này cũng có một số nội dung mà cách hiểu, cách áp dụng chưa được thống nhất hoặc chưa được sự đồng thuận cao trong quá trình tác nghiệp của các đối tượng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính nói riêng. Trong đó có việc ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong các biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính.
Để sử dụng các loại biểu mẫu được thống nhất, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ban hành kèm theo Phụ lục 32 biểu mẫu trong xử phạt vi phạm hành chính (gồm 20 mẫu Quyết định; 11 mẫu biên bản và 01 mẫu văn bản giao quyền xử lý vi phạm hành chính). Nội dung các biểu mẫu này đều cụ thể, rõ ràng nên quá trình thực hiện có nhiều thuận lợi cho các đối tượng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong các biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính thì đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập vì có 2 cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Cách hiểu và vận dụng thứ nhất: Hướng dẫn việc trình bày các biểu mẫu trong việc xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định: “Những yêu cầu về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản đối với các biểu mẫu dùng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính về phông chữ trình bày văn bản; Về khổ giấy, kiểu trình bày, định lề trang văn bản; Về thể thức và kỹ thuật trình bày quốc hiệu; Về thể thức và kỹ thuật trình bày tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; Về thể thức kỹ thuật trình bày số văn bản; Về thể thức trình bày địa danh, ngày tháng năm ban hành văn bản”. Trong đó lưu ý: Riêng đối với văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã thì phải ghi rõ cấp tỉnh, cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp huyện thì phải ghi rõ cấp tỉnh. Vì vậy, một số trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra Quyết định xử phạt thì vận dụng và trình bày bằng hình thức ghi rõ phần cơ quan ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên Ủy ban nhân dân cấp huyện và sau đó mới ghi tên cơ quan là Ủy ban nhân dân cấp xã của người có thẩm quyền ban hành Quyết định. Một số ý kiến cho rằng cách trình bày này là phù hợp theo hướng dẫn tại biểu mẫu Quyết định số 19 được ban hành tại Danh mục phụ lục biểu mẫu kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và phân biệt rõ tên đơn vị hành chính giữa các địa phương trong phạm vi toàn quốc, đảm bảo được yêu cầu của việc thực hiện cung cấp thông tin cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu công tác xử phạt vi phạm hành chính.
Cách hiểu và vận dụng thứ hai: Đa số ý kiến không đồng tình với cách trình bày như hướng dẫn biểu mẫu Quyết định số 19 của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP vì không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với quy định về kỹ thuật trình bày văn bản (văn bản chuyên ngành) theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội dòng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và nguyên tắc tổ chức của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Bởi vì, cách trình bày này sẽ dẫn đến cách hiểu: Ủy ban nhân dân cấp trên là cơ quan chủ quản của Ủy ban nhân dân cấp dưới. Điều này là không phù hợp với nguyên tắc tổ chức do Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 vì Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và Ủy ban nhân dân cấp trên không phải là cơ quan chủ quản của Ủy ban nhân dân cấp dưới. Do đó, trong trường hợp này nên trình bày bằng hình thức là ghi tên của Ủy ban nhân dân cấp xã của người có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt, sau đó chỉ cần ghi tên huyện, tên tỉnh của đơn vị hành chính đó là hợp lý hơn. Cụ thể, cách trình bày như sau: UBND XÃ (A) HUYỆN (B) TỈNH (C). Cách trình bày này vừa đảm bảo tính thống nhất với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 về nguyên tắc tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đồng thời phù hợp với các văn bản của Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn về cách trình bày văn bản hành chính mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của việc phân biệt rõ tên đơn vị hành chính giữa các địa phương trong phạm vi toàn quốc, đảm bảo được yêu cầu của việc thực hiện cung cấp thông tin cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu công tác xử phạt vi phạm hành chính.
 Từ cách hiểu và vận dụng như trên, trong quá trình tác nghiệp việc trình bày tên cơ quan của người có thẩm quyền ban hành các biểu mẫu kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP không thống nhất, gây có khăn cho công tác theo dõi nhưng vấn đề cần lưu ý là sai thẩm quyền về hình thức của biểu mẫu được sử dụng trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính. Điều này có thể dẫn đến hậu quả Quyết định đó bị các cơ quan có thẩm quyền tuyên hủy vì không phù hợp theo quy định của Điều 32 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP nếu Quyết định bị khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định. Do vậy, đề nghị Bộ Tư pháp cần nghiên cứu và có ý kiến đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định này cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật./.
♦ Lê Kim Chinh
 
Góp ý dự thảo Luật ban hành Văn bản QPPL: Những vấn đề cần bàn thêm về văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã
Thứ ba, 22 Tháng 7 2014 01:03
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (Luật năm 2004) thì HĐND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương. Luật năm 2004 quy định nội dung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã căn cứ vào lĩnh vực, phạm vi quản lý nhà nước của HĐND, UBND cấp huyện, xã được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND, do vậy nội dung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND trùng với thẩm quyền quản lý được quy định trong Luật Tổ chức HĐND và UBND. Cụ thể:
- Nghị quyết của HĐND cấp huyện được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định của UBND cấp huyện được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106 và 107 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Nghị quyết của HĐND xã, thị trấn được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, đời sống, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương trên địa bàn xã, trị trấn quy định tại các điều 29, 30, 31, 32, 33 và 34 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định của UBND cấp xã được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 và 117 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp tại dự thảo Tờ trình Chính phủ Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì qua 9 năm thực hiện Luật năm 2004 các cơ quan nhà nước ở địa phương đã ban hành 284.519, trong đó cấp huyện có: 25.625 Nghị quyết của HĐND; 47.919 Quyết định của UBND; 7.626 Chỉ thị của UBND. Cấp xã có: 126.163 Nghị quyết của HĐND; 39.419 Quyết định của UBND và 6.534 Chỉ thị của UBND. Với con số này có thể thấy rằng nhu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp huyện và cấp xã là rất lớn, bởi trên thực tế văn bản quy phạm pháp luật chính là công cụ hữu hiệu để giúp các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Tuy nhiên, hiện có hai tồn tại làm giảm chất lượng và hiệu quả điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật cấp huyện và cấp xã đó là:
Thứ nhất, tình trạng sao chép lại nội dung của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Người viết cho rằng thực trạng này không những gây lãng phí thời gian, tiền bạc và nguồn lực cho hoạt động xây dựng văn bản mà còn vi phạm quy định về việc không được quy định lại nội dung đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai, có một số lượng không nhỏ văn bản quy phạm do cấp huyện, cấp xã ban hành có nội dung không thống nhất, mâu thuẫn và trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Tình trạng này xuất phát từ thực tế về đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra, theo người viết thì còn có một nguyên nhân khách quan khác nữa đó là thông thường khi phân công, phân cấp cho địa phương ban hành, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên thường cho phép địa phương đặt ra quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương. Ví dụ: điểm b khoản 3 Điều 5 Thông tư số 08/2014/TT-BXD (có hiệu lực kể từ ngày 08/7/2014) phân công trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh trong việc lựa chọn chủ đầu tư dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quy định cụ thể việc đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương” hoặc điểm b Khoản 1 Điều 14 Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố quy định Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm “ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phù hợp với tình hình thực tế của địa phương”. Quy định này mục đích là cho phép các địa phương linh hoạt đặt ra các quy định phù hợp với đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, dân cư và ý thức chấp hành pháp luật của người dân ở địa phương để nâng cao tính khả thi của văn bản, tuy nhiên nó đồng thời cũng dẫn đến sự tùy tiện đặt ra những quy định chồng chéo, mâu thuẫn và thậm chí trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Với những thực trạng nêu trên, việc cơ quan soạn thảo đặt ra mục tiêu hạn chế chủ thể ban hành văn bản nhằm làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đơn giản, minh bạch, rõ ràng, dễ tiếp cận, dễ áp dụng hơn để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích công dân, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, giảm mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, và điều quan trọng hơn là để các quy định về thẩm quyền, thể loại và trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã phù hợp với tình hình thực tế và phát huy vai trò trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương thì người viết cho rằng cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, theo dự thảo Luật thì HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được giao trong Luật tổ chức chính quyền địa phương. Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã phải được UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt. Với mục tiêu giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương, quy định này nhằm đảm bảo văn bản của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành trong trường hợp thật cần thiết và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan ban hành. Tuy nhiên, người viết cho rằng nếu quy định chung chung nội dung văn bản quy phạm của HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã như trên có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc ban hành văn bản, đồng thời việc đặt ra cơ chế phải được UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt sẽ làm cho quy trình, thủ tục ban hành văn bản của cấp huyện, cấp xã trở nên rườm rà và phức tạp. Do vậy, dự thảo Luật nên cân nhắc quy định HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được giao trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc HĐND, UBND cấp trên trực tiếp giao cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp quy định như vậy, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã vừa không thể tùy tiện ban hành văn bản, vừa không cần phải có sự phê duyệt của UBND cấp trên trực tiếp.
Thứ hai, khoản 3 Điều 22 dự thảo Luật quy định giao Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về trình tự, thủ tục ban hành, phê duyệt văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, người viết cho rằng cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm nội dung này. Bởi vì, dự thảo Luật không quy định hình thức Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội là văn bản quy phạm pháp luật, mà Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chỉ ban hành pháp lệnh để quy định những nội dung được Quốc hội giao trong luật sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật (Điều 12). Như vậy, nếu chỉ để quy định trình tự, thủ tục ban hành, phê duyệt văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã mà phải ban hành pháp lệnh là không cần thiết và không phù hợp với mục tiêu giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật mà dự thảo Luật đã đặt ra. Do đó, những vấn đề này nên được quy định cụ thể, chi tiết trong dự thảo Luật là phù hợp hơn với phạm vi điều chỉnh của Luật.
Thứ ba, dự thảo Luật quy định HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng không quy định cụ thể loại văn bản được ban hành là không rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn. Người viết cho rằng để thống nhất với thẩm quyền của HĐND, UBND cấp tỉnh, dự thảo Luật nên quy định cụ thể HĐND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành quyết định tại khoản 2 Điều 3 để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, không nên quy định chung chung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã như trong dự thảo Luật./.
♦ Trần Thị Túy
 
Công an tỉnh Bình Định: Điểm sáng trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật
Thứ sáu, 11 Tháng 7 2014 05:45
Thi hành pháp luật và bảo đảm thi hành pháp luật luôn được coi là trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, của doanh nghiệp và của các cá nhân. Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng đó, ngày 03/3/2010, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2010/TT-BTP hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Để phù hợp với yêu cầu thực tiễn thi hành của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, ngày 23/7/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP thay thế Thông tư số 03/2010/TT-BTP. Đây là nhiệm vụ mới được Chính phủ giao cho ngành tư pháp trong việc giúp Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, của doanh nghiệp và của các cá nhân.
 Tại tỉnh Bình Định, trong thời gian qua, các sở, ngành, địa phương đã tích cực triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CPvà đã bước đầu đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, cho đến nay, theo dõi thi hành pháp luật vẫn là một nhiệm vụ mới, có tính chất phức tạp, có phạm vi rộng, liên quan đến tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương. Mặc dù công tác này có nhiều khó khăn nhưng qua kết quả thực hiện thì có một số đơn vị đã thực hiện tốt công tác này. Điển hình là Công an tỉnh Bình Định.
 Nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lực lượng Công an của tỉnh, Đảng ủy và Lãnh đạo Công an tỉnh luôn quán triệt, tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên của ngành về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật thông qua các hoạt động thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác này như Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, các văn bản, kế hoạch của ngành Công an đến từng cán bộ, chiến sỹ. Từ đó góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, tôn trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, nhân dân đối với cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an. Việc triển khai thực hiện công tác này được tiến hành đồng bộ, thống nhất từ từ đến cấp huyện, cấp xãmột cách thường xuyên, toàn diện, có trọng tâm trọng điểm được kết hợp khoa học giữa công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật với công tác theo dõi tình hình an ninh, trật tự trên từng lĩnh vực, từng địa bàn. Bên cạnh đó, Công an tỉnh xây dựng kế hoạch phối hợp với các cơ quan: Tòa án, Viện Kiểm sát, các ban, ngành có liên quan tổ chức rà soát, bổ sung những quy chế phối hợp đã có hoặc ban hành quy chế phối hợp mới trong hoạt động tố tụng theo hướng chặt chẽ, đúng các quy định của pháp luật, kịp thời và có hiệu quả so với trước khi chưa có quy định về công tác theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy công tác tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác tội phạm, thông tin về hoạt động của tội phạmđược xử lý kịp thời, phù hợp với tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phương, hạn chế sự chồng chéo, trùng lặp trong việc thực hiện công tác này. Đồng thời, việc thực hiện tốt công tác này cũng đã làm hạn chế tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài, vượt cấp gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
 Để thực hiện tốt công tác theo dõi thi hành pháp luật, trong thời gian qua công tác ban hành hoặc tham mưu, đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật đã được Công an tỉnh chú trọng. Trong 6 tháng đầu năm 2014, đã ban hành hoặc tham mưu, đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành trên 10 văn bản để triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Công an nói noi và công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật nói riêng. Qua đó, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành được thuận lợi, kịp thời và hiệu quả. Song song với công tác này, việc tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng của ngành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và phát động phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật được tổ chức bằng nhiều hình thức phù hợp, thích hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi, phong tục tập quán vùng miền. Thời gian qua, ngành đã chủ động và phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức hàng trăm lớp tập huấn, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trên 100.000 lượt người tham gia, phát hành trên 150.000 tài liệu, tờ rơi nhằm truyền thông một cách đầu đủ, kịp thời các nội dung pháp luật trên các lĩnh vực. Vì vậy đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực.
 Nhìn chung, công tác công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Công an tỉnh Bình Định cũng đã có chuyển biến tích cực, được hoàn thiện một bước với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho việc theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi của ngành trên địa bàn tỉnh. Việc xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực và địa bàn quản lý đã bắt đầu đi vào nền nếp và đạt được một số kết quả bước đầu; trong đó đã tập trung vào một số lĩnh vực đang thu hút nhiều sự chú ý của dư luận như công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý nhằm đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai; hạn chế thấp nhất tình trạng khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức. Công tác theo dõi thi hành pháp luật đã có sự gắn kết hơn với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bước đầu hình thành cơ chế đồng bộ trong công tác theo dõi thi hành pháp luật với các phòng trào của ngành Công an trong phạm vi toàn tỉnh bảo đảm thống nhất, hiệu lực, hiệu quả.
               
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được cần phát huy, nhân rộng thì công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Công an Bình Định còn một số hạn chế, tồn tại như công tác này ở cấp huyện chưa được đầu tư đúng mức. Lực lượng thực hiện công tác này còn thiếu và chưa có kinh nghiệm vì chưa được bố trí chuyên trách, phải kiêm nhiệm nhiều phần việc khác nhau nên còn thiếu tính chuyên sâu và chưa đáp ứng một cách hiệu quả công tác này. Mặc khác, công tác này có phạm vi rất rộng, các quy định về công tác theo dõi thi hành pháp luật chưa thật sự đầy đủ.Vì vậy, việc xác định phạm vi theo dõi là không đơn giản, nhất là trong phạm vi quản lý theo lĩnh vựccủa ngành Công an.
               
Phát huy kết quả đạt được, Công an tỉnh Bình Định đã có những giải pháp hữu hiệu đề khắc phục những tồn tại hạn chế như trong thời gian qua để nhằm thực hiện tốt Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, đưa công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi của ngành phù hợp với vai trò của công tác này trong việc thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta trong giai đoạn hiện nay./.
 ♦ Lê Kim Chinh
 
Đoàn kiểm tra liên Bộ: Tư pháp - Nội vụ kiểm tra công tác pháp chế tại tỉnh Bình Định
Thứ ba, 08 Tháng 7 2014 00:27
Ngày 04/7/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế và có hiệu lực thi hành từ ngày 25/8/2011 thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước. Để chuẩn bị cho việc đánh giá 03 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, vừa qua, Đoàn công tác liên ngành Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ tổ chức kiểm tra kết quả 03 năm triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP tại Bình Định. Tham dự buổi làm việc có bà Trần Thị Thu Hà – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đại diện lãnh đạo các Sở: Tư pháp, Nội vụ, Tài chính, Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; cán bộ làm công tác pháp chế của Chi cục Quản lý thị trường (Sở Công thương), Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tổng Công ty Dược - Trang thiết bị y tế Bình Định. Tại buổi làm việc, Đoàn công tác đã nghe báo cáo kết quả 03 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh, phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai Nghị định, đồng thời trao đổi nghiệp vụ công tác pháp chế.
Đánh giá kết quả 3 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Bình Định, Đoàn công tác nhận định công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh Bình Định đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương. Kết quả được thể hiện trên các lĩnh vực:
Trong công tác xây dựng pháp luật các tổ chức pháp chế của các sở, ngành đã phối hợp với Sở Tư pháp trong việc lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hàng năm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh nhằm góp phần thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước ở địa phương trên tất cả các lĩnh vực; làm đầu mối chịu trách nhiệm giúp lãnh đạo thẩm định tính hợp pháp, hợp hiến, hợp lý và tính khả thi đối với các văn bản do đơn vị ban hành; phối hợp với Sở Tư pháp tập hợp, rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp có liên quan đến chức năng quản lý của ngành. Qua đó đã phát hiện một số văn bản quy phạm pháp luật hoặc áp dụng pháp luật có nội dung không phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo và đã có kiến nghị, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung, thay thế kịp thời. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được các Sở, ngành duy trì thực hiện thường xuyên phù hợp với Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm đã được Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật tỉnh Bình Định ban hành. Hình thức tuyên truyền, phổ biến được cải tiến với nhiều phương pháp thích hợp với đặc thù của từng đơn vị như tổ chức hội nghị tập huấn, hội thảo phổ biến kiến thức pháp luật, mở chuyên mục tìm hiểu pháp luật của từng đơn vị trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật bằng hình thức sân khấu hóa…Vì vậy đã chuyển tải kịp thời các nội dung pháp luật đến với các đối tượng cần tuyên truyền phổ biến để nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên…
Đối với các nhóm công việc mới được giao cho cán bộ pháp chế thực hiện như  công tác theo dõi thi hành pháp luật; công tác bồi thường nhà nước; công tác hỗ trợ pháp lý cho các Doanh nghiệp, tư vấn pháp lý và tham gia tố tụng bước đầu tại các sở, ngành cán bộ làm công tác pháp chế đã đề xuất, tham mưu cho lãnh đạo tiến hành triển khai thực hiện. Qua đó các cơ quan đã phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó có những biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật các hành vi vi phạm để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước của ngành đã được phân công, phân cấp; hạn chế việc gây thiệt hại phải dẫn đến tình trạng phải thực hiện bồi thường cũng như giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về pháp lý trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, góp phần tăng năng lực cạnh tranh, hạn chế rủi ro pháp lý trong kinh doanh.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, đại diện các Sở, ngành tham dự buổi làm việc cũng đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ở các đơn vị nên làm cho hiệu quả công tác pháp chế vẫn còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này song nguyên nhân chủ yếu là do khối lượng công tác pháp chế ngày càng nhiều, đòi hỏi chuyên môn sâu, trong khi đó việc thành lập Phòng Pháp chế hoặc bố trí biên chế chuyên trách làm công tác pháp chế ở tất cả các chưa được thực hiện vì không có biên chế bố trí; đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế đa số chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định về chuyên môn nhưng không có nguồn nhân sự để bổ sung; chính sách quan tâm đãi ngộ cho người làm công tác pháp chế chưa phù hợp nên các cơ quan không thu hút được người có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ để làm công tác này.
            
Qua kết quả làm việc, Đoàn công tác đánh giá cao kết quả triển khai và thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của các đơn vị trên địa bàn tỉnh Bình Định nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, v.v…. Để đảm bảo cho công tác pháp chế được triển khai đồng bộ, hiệu quả, Đoàn công tác đề nghị lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm hơn nữa đến công tác pháp chế đặc biệt trong bối cảnh hiện nay cán bộ làm công tác pháp chế được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới, quan trọng; đề nghị Sở Tư pháp chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện đầy đủ các quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP một cách kịp thời, hiệu quả để nâng hiệu lực công tác giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác pháp chế.
             
Kết thúc buổi làm việc, thay mặt Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trần Thị Thu Hà kiến nghị Chính phủ, Bộ Tư pháp và các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án kiện toàn tổ chức cán bộ và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế giai đoạn 2014 - 2020; phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức và quyết định phân bổ biên chế cho tỉnh để có nguồn bố trí biên chế của đội ngũ những người làm công tác pháp chế ở địa phương; đồng thời Bộ Tư pháp cần phối hợp Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế để nhằm có cơ chế thu hút được người có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ để làm công tác này. Có như thế mới nâng cao hiệu quả của công tác pháp chế, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta./.

♦ Lê Kim Chinh
 
Những vấn đề cần trao đổi thêm về chế định mang thai hộ
Thứ năm, 15 Tháng 5 2014 07:42
Cho phép mang thai hộ là một quy định hoàn toàn mới trong dự thảo Luật hôn nhân và đình sửa đổi. Mặc dù đây không phải là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam bởi việc mang thai hộ vẫn diễn ra trong đời sống thực tế và là nguyện vọng chính đáng của những cặp vợ chồng chưa có con mà người vợ không có khả năng mang thai và sinh con. Chế định này nhận được sự quan tâm của xã hội bởi sự thay đổi chính sách từ việc nghiêm cấm hoàn toàn đến cho phép mang thai hộ. Sự thay đổi này thể hiện một bước tiến trong công tác xây dựng pháp luật là xây dựng chính sách gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên, do lần đầu tiên được cụ thể hóa thành luật những vấn đề về mang thai hộ như điều kiện mang thai, quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai, bên mang thai và con … cần phải được nhìn nhận, trao đổi cụ thể và toàn diện hơn. Với mong muốn chính sách được ban hành hoàn thiện và có tính khả thi, người viết xin góp ý một số nội dung sau:
1.  Về yêu cầu, điều kiện mang thai hộ
a) Dự thảo Luật quy định điều kiện đầu tiên để một cặp vợ chồng có quyền nhờ mang thai hộ là có xác nhận của tổ chức y tế về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Quy định này có thể được hiểu rằng vợ chồng chỉ được nhờ mang thai hộ nếu đã áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản những không có kết quả. Nếu nhằm hạn chế tối đa việc mang thai hộ vì những hệ lụy mà nó mang lại thì quy định này sẽ đạt được mục đích, tuy nhiên nếu để nhằm mục đích hỗ trợ, tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh thực hiện khát vọng, nhu cầu làm cha mẹ, thì quy định này mới chỉ hỗ trợ, tạo điều kiện cho những cặp vợ chồng có điều kiện kinh tế khá giả. Bởi vì, theo hiểu biết của người viết thì hiện nay ở Việt Nam có hai kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phổ biến là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm, chi phí trung bình cho mỗi lần thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là khoảng 50-60 triệu đồng (thậm chí cao hơn). Như vậy, sau khi đã bỏ ra một khoản tiền rất lớn để thực hiện thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm không thành, họ phải bỏ ra một khoản chi phí tương đương và thậm chí cao hơn để sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhằm thực hiện việc mang thai hộ. Như vậy, quy định này vô hình dung chỉ mới hỗ trợ cho người giàu, còn với người nghèo lại rất khó khả thi. Do vậy, cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm để bỏ điều kiện “ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” để tránh hiểu lầm khi áp dụng pháp luật.
b) Dự thảo Luật quy định người được nhờ mang thai hộ phải là người thân thích của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Việc quy định này là nhằm phòng ngừa khả năng mua bán trẻ em, đẻ thuê hoặc vì lý do tình cảm gần gũi giữa người mang thai hộ và con. Tuy nhiên, việc hạn chế này nên cân nhắc thêm vì lý do sau:
Nếu xảy ra trường hợp cả hai vợ chồng nhờ mang thai hộ không có người thân thích hoặc người thân thích không đủ điều kiện như quy định hoặc người thân thích không đồng ý mang thai hộ thì vợ chồng này hầu như khó có cơ hội để có được người con mang huyết thống của mình như nguyện vọng. Vì vậy, để có sự hài hòa trong quản lý nhà nước về tình trạng thương mại hóa mang thai hộ hoặc mua bán trẻ em có thể xảy ra nếu mở rộng người được nhờ mang thai hộ và khao khát chính đáng của những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, cơ quan soạn thảo nên cân nhắc quy định theo hướng: ưu tiên những người là quan hệ thân thích, trong trường hợp bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ không có người thân thích thì có thể nhờ người khác mang thai hộ nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp này, dự thảo Luật có thể bổ sung thêm điều kiện người được nhờ mang thai hộ phải có địa chỉ thường trú, tạm trú rõ ràng để dễ dàng cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát vấn đề.
c) Người viết thấy rằng, các điều kiện mang thai hộ quy định tại dự thảo Luật chỉ mới dừng lại ở việc quy định điều kiện cần thiết để thực hiện được việc mang thai mà chưa đề cao tính chịu trách nhiệm của các bên đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình và chưa bảo vệ quyền lợi tuyệt đối cho con từ khi là một thai nhi cho đến khi được sinh ra. Do vậy, nên bổ sung thêm điều kiện mang thai hộ đó là: các bên chỉ đủ điều kiện để thực hiện việc mang thai hộ nếu có sự cam kết về việc thực hiện các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng thai nhi và các cam kết về việc giao, nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc bé trong mọi trường hợp kể từ khi bé được sinh ra.
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng nên cân nhắc bổ sung quy định điều kiện của người được nhờ mang thai hộ đó là: phải được tiêm các loại vắcxin quan trọng có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi và sức khỏe của người mang thai trước khi quyết định mang thai. Việc cân nhắc này là cần thiết bởi vì trên thực tế những rủi ro trong thời kỳ mang thai cho mẹ và bé là rất phổ biến, không những ảnh hưởng trực tiếp đến họ mà còn để lại gánh nặng cho xã hội nếu sinh ra những em bé bị dị tật. Trong lúc đó, hiện tại có một số loại vắc xin được khuyến cáo nên tiêm trước khi quyết định mang thai 03 tháng để hạn chế rủi ro. Do vậy, nếu chỉ quy định đã được tư vấn về y tế như dự thảo Luật thì không bảo đảm cho những lo ngại trên.
2. Quyền, nghĩa vụ của người mang thai hộ
Người viết thấy rằng, vấn đề sức khỏe của người mang thai và thai nhi trong trường hợp mang thai hộ rất khác với trường hợp mang thai tự nhiên vì phải có sự hỗ trợ của kỹ thuật nên việc chăm sóc sức khỏe cho họ cũng cần phải được quan tâm hơn. Do vậy nếu chỉ quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản….như dự thảo Luật là chưa đảm bảo sức khỏe cho người mang thai và thai nhi. Dự thảo Luật cần phải có những quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ trong vấn đề này, cụ thể: (1) người mang thai hộ có quyền được chăm sóc và kiểm tra sức khỏe trong quá trình mang thai theo tư vấn của bác sỹ và được chi trả các chi phí liên quan đến vấn đề này. (2) người mang thai hộ có nghĩa vụ phải quan tâm, chăm sóc sức khỏe của thai nhi và thông báo về tình hình sức khỏe của mình và thai nhi cho người nhờ mang thai hộ. Việc bổ sung những quy định này cần được cân nhắc bởi vì sự phát triển bình thường của thai nhi phụ thuộc gần như hoàn toàn vào chế độ dinh dưỡng, sự quan tâm, tình cảm và tình trạng sức khỏe của người mang thai. Trong lúc đó, người chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cuối cùng với đứa trẻ lại là người nhờ mang thai hộ, do vậy họ nên có quyền được biết những thông tin về sức khỏe của cả hai để cùng nhau chăm sóc, đảm bảo sinh ra em bé khỏe mạnh, bình thường.
3. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ
a) Dự thảo Luật quy định: Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tế bởi vì khi bé còn nằm trong bụng thì sự phát triển của bé hoàn toàn phụ thuộc vào người mang thai. Tuy nhiên, có một ngoại lệ là nếu thai nhi được xác định mang bệnh hiểm nghèo như khuyết tật tim bẩm sinh, bị mắc hội chứng down hoặc những dị tật bẩm sinh khác thường được bác sỹ tư vấn nên cân nhắc để chấm dứt thai kỳ. Trong trường hợp thông thường sẽ do bố mẹ là người quyết định cuối cùng, tuy nhiên đối với trường hợp mang thai, hộ dự thảo Luật chỉ cho phép người mang thai có quyền quyết định tiếp tục hay không tiếp tục mang thai. Trong lúc đó, người có nghĩa vụ cuối cùng trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng em bé kể từ thời điểm được sinh ra lại là người nhờ mang thai hộ. Nếu xảy ra trường hợp người mang thai được bác sỹ khuyên nên cân nhắc để chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên, do trong quá trình mang thai, hai bên có sự mâu thuẫn trầm trọng trong việc thực hiện các thỏa thuận, người mang thai không thông báo lại cho người nhờ mang thai và quyết định giữ thai để trả thù. Vì theo quy định của dự thảo Luật chỉ có người mang thai mới có quyền quyết định chấm dứt thai kỳ, bên nhờ mang thai không được từ chối nhận con và họ chỉ có quyền và nghĩa vụ với con kể từ thời điểm con được sinh ra, do vậy họ không có quyền can thiệp trong trường hợp này. Vì vậy, quy định như dự thảo Luật sẽ có khả năng dẫn đến thực tế là sinh ra những đứa trẻ bị bệnh hiểm nghèo, dị tật nặng khó có cơ hội sống sót hoặc sẽ sống đời sống thực vật….điều này không những là nỗi đau của các bé mà còn là nỗi đau, gánh nặng cho người nhờ mang thai và cho toàn xã hội. Do vậy, theo người viết nên cân nhắc nghiên cứu và bổ sung quy định người nhờ mang thai hộ có quyền được biết các thông tin liên quan đến sức khỏe của thai nhi và có quyền cùng bàn bạc, quyết định về việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản.
b) Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, dự thảo Luật quy định trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không nhận con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Người viết cho rằng quy định này còn quá lỏng lẽo và khó đảm bảo tính khả thi, bởi vì trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đẻ chung của những ông bố bà mẹ trong các vụ án ly hôn đã rất khó thực hiện, hơn nữa đây là trường hợp nhờ mang thai hộ mà họ lại từ chối nhận con. Do vậy, để quy định có thể thực hiện một cách hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho con, dự thảo Luật nên quy định chặt chẽ hơn, bổ sung thêm những cam kết của người nhờ mang thai hộ đối với nghĩa vụ nhận con, nuôi dưỡng, chăm sóc, cấp dưỡng cho con nhằm phòng ngừa tình trạng trốn tránh nghĩa vụ như đang xảy ra trong thực tế mà pháp luật hiện hành chưa có biện pháp hữu hiệu để thi hành.
4. Giải quyết tranh chấp liên quan đến mang thai hộ
a) Dự thảo Luật quy định: trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn mà bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ theo quy định của Bộ luật Dân sự. Theo người viết, quy định này mâu thuẫn với quy định “Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan” của dự thảo Luật và với Điều 61, Điều 63 Bộ luật Dân sự. Bởi vì, theo dự thảo Luật giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình nhờ mang thai hộ có mối quan hệ như quan hệ huyết thống, họ có các quyền và nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nhau…Trong lúc đó, Điều 61 Bộ luật Dân sự quy định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ được xác định như sau:
“- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ”.
Điều 63 Bộ luật Dân sự quy định trong trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
Như vậy, căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự với quy định của dự thảo Luật về mối quan hệ của con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ thì người giám hộ đương nhiên cho con trong trường hợp mang thai hộ mà bên nhờ mang thai hộ không còn phải là ông, bà nội ngoại, cô bác…và Tòa án chỉ thực hiện việc chỉ định người giám hộ nếu không có người giám hộ đương nhiên.
b) Ngoài ra, người viết cho rằng dự thảo Luật chưa xác định chính xác người ưu tiên được quyền nhận nuôi con trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn. Theo người viết, nếu không xác định cụ thể về vấn đề này sẽ dẫn ra tranh chấp về quyền nuôi con giữa người mang thai hộ với các thành viên khác trong gia đình bên nhờ mang thai hộ nếu bên nhờ mang thai hộ không còn. Để tránh những tranh chấp có thể xảy ra và để bảo vệ quyền lợi cho con, dự thảo Luật nên cân nhắc bổ sung quy định: Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn thì bên mang thai hộ có quyền được nhận nuôi con. Nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi con thì những thành viên khác trong gia đình của bên nhờ mang thai hộ có quyền được nhận nuôi con. Nếu những thành viên khác trong gia đình của bên nhờ mang thai hộ không nhận nuôi con thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho con./.
♦ Trần Thị Túy
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 của 17

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN