Thứ năm, 17/04/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 4/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý VBQPPL
( 30.11.99 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thông báo tập trung học kỳ II năm học 2013 - 2014 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thông báo tập trung học kỳ II năm học 2013 - 2014 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay787
mod_vvisit_counterTất cả259412



Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm theo dõi tình hình thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn
Thứ tư, 16 Tháng 4 2014 17:00
Ngày 21/3/2014, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 624/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2014.
Nhằm xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý liên ngành về an toàn thực phẩm, để kịp thời phát hiện những vấn đề khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật, gây bức xúc và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người dân; kiến nghị các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Kế hoạch xác định thực hiện theo dõi thi hành pháp luật tronglĩnh vực pháp luật liên ngành về an toàn thực phẩm và yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố căn cứ Kế hoạch chungvề theo dõi thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm củaliên Bộ: Tư pháp - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Y tế - Công thương tiến hành xây dựng, tổ chức thực hiện Kế hoạch theo dõi tình hình thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn và báo cáo tình hình thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn gửi Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế.
Ngoài ra, để xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, Kế hoạch đã xác định một số nội dung cơ bản khác để triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật trong năm 2014 là: 
Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật; xây dựng Đề án phát triển mạng lưới cộng tác viên theo dõi tình hình thi hành pháp luật; tập huấn nghiệp vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luậtcho cán bộ làm công tác pháp chế tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cán bộ làm công tác theo dõi thi hành pháp luật của các địa phương; kiểm tra tình hình thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luậttại các Bộ, ngành, địa phương; hướng dẫn, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014; giải đáp vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho các Bộ, ngành, địa phương; rà soát, thống kê về tổ chức, biên chế làm công tác theo dõi thi hành pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp (tập trung vào các luật đã có hiệu lực thi hành được ba năm, lĩnh vực có khó khăn, vướng mắc gồm: nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp, trách nhiệm bồi thường nhà nước, chứng thực); quản lý, duy trì chuyên mục phản ánh tình hình thi hành pháp luật trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp;xử lý thông tin về tình hình thi hành pháp luật theo phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành;…./.
♦ N.C
 
Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khảo sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường, căn cước công dân tại tỉnh Bình Định
Thứ năm, 27 Tháng 3 2014 08:08
Để chuẩn bị cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về môi trường và căn cước công dân (chứng minh nhân dân), vừa qua Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội do Giáo sư - Tiến sĩ Hồ Trọng Ngũ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Quốc hội làm Trưởng đoàn đã tiến hành khảo sát, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định về thực hiện các chính sách pháp luật về môi trường và căn cước công dân. Tham gia Đoàn khảo sát có các thành viên của Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội; đại diện các Bộ: Công thương, Tài nguyên và Môi trường, Công an, Tư pháp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Hữu Lộc và Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nguyễn Thanh Thụy cùng lãnh đạo các sở, ngành liên quan đã tiếp và làm việc với Đoàn khảo sát. Tại buổi làm việc, Đoàn khảo sát đã nghe báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, ý kiến của các sở, ngành vế kết quả đạt được và những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường và căn cước công dân.
 Theo Ủy ban nhân dân tỉnh, thời gian qua, trong lĩnh vực thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường trên địa bàn tỉnh Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản thực hiện tốt chính sách này. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường được kiện toàn ở các cấp, năng lực quản lý được tăng cường trong đó có việc thành lập Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Công an tỉnh nên đã hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, giám sát môi trường trong toàn tỉnh. Hoạt động truyền thông, phổ biến giáo dục pháp luật về môi trường ngày càng được chú trọng, phát triển và nhân rộng. Do đó, bước đầu tình hình chấp hành chính sách, pháp luật về môi trường tại các cơ sở đã thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả tốt. Trong năm 2013 cơ quan chức năng đã tiến hành 9 cuộc thanh tra, kiểm tra qua đó phát hiện và xử phạt 18 doanh nghiệp với tổng số tiền trên 161 triệu đồng.
 Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường nói chung và của Cảnh sát môi trường nói riêng đã góp phần giải quyết các vấn đề về ô nhiễm, hủy hại môi trường gây bức xúc trong nhân dân, hạn chế tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài và cản trở hoạt động của doanh nghiệp, tạo được sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân, góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cấp, các ngành và nhân dân trên địa bàn tỉnh Qua đó đã huy động được lực lượng quần chúng nhân dân tham gia vào vào công tác bảo vệ môi trường. Nhiều vụ việc được phát hiện và xử lý kịp thời nhờ từ tin báo, phản ảnh của các tổ chức, đoàn thể và quần chúng nhân dân.
 Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế, tồn tại. Việc vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra khá phức tạp, phổ biến trên nhiều địa bàn, lĩnh vực. Cơ sở vật chất kỹ thuật nhất là phương tiện, thiết bị kiểm định môi trường mới chỉ đáp ứng một phần yêu cầu nhiệm vụ, các thiết bị kiểm định môi trường chỉ được trang bị để sử dụng cho công tác trinh sát, nắm tình hình mà chưa thể sử dụng kết quả phân tích của các thiết bị này cho công tác kiểm tra, xử phạt. Công tác quy hoạch các khu, cụm công nghiệp…với quy hoạch khu tập trung thu gom, xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp, chất thải xây dựng, chất thải y tế thiếu đồng bộ, không kịp thời nên dẫn đến tình trạng một số lượng lớn chất thải nguy hại chưa được xử lý. Chưa có biện pháp kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả các nguồn xả thải trực tiếp ra sông, lưu vực từ các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề, các hoạt động thương mại, dịch vụ sinh hoạt dân cư tại khu dân cư, đô thị. Các tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ hồ sơ môi trường đã được phê duyệt; chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải như đã cam kết, đăng ký hoặc đã xây dựng nhưng không đạt yêu cầu kỹ thuật hoặc không vận hành thường xuyên. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường ở cấp huyện, cấp xã còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cũng như công tác thi hành pháp luật về lĩnh vực môi trường.
 Nguyên nhân dẫn đến tình những tồn tại, hạn chế trong công tác này là do điều kiện khách quan lẫn chủ quan. Về mặt khách quan, do các quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường có nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nhất là trong việc quy định về cam kết và thực hiện bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường. Chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường chưa đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe như không thể xử lý hình sự đối với các tổ chức, doanh nghiệp khi vi phạm. Vì vậy đã dẫn đến tình trạng “nhờn luật”. Về mặt chủ quan, việc triển khai, đôn đốc và kiểm tra kết quả thực hiện một số nhiệm vụ về bảo vệ môi trường chưa được kịp thời, thường xuyên, thiếu kiên quyết nên phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gặp nhiều khó khăn. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế, chưa phát huy hiệu quả. Kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Tổ chức bộ máy, biên chế thực hiện công tác bảo vệ môi trường chưa hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, do tình hình kinh tế khó khăn trong những năm qua cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này, đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cơ quan có thẩm quyền “thông cảm” bỏ qua hoặc xử lý nhẹ đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Vì vậy, hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường có phần hạn chế.
 Trong lĩnh vực thực hiện chính sách, pháp luật về căn cước công dân, qua hơn 14 năm thực hiện Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ quy định về Chứng minh nhân dân, việc thực hiện đã có nhiều cải tiến. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các chính sách pháp luật về căn cước cho nhân dân được tăng cường. Công tác chỉ đạo được các ngành, các cấp tăng cường thông qua nhiều hình thức thích hợp gắn kết với việc củng cố kiện toàn tổ chức, cán bộ làm công tác quản lý, cấp phát Chứng minh nhân dân. Hàng năm công tác cải cách thủ tục hành chính, công tác kiểm tra được duy trì thường xuyên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót trong quá trình cấp phát, quản lý, sử dụng khai thác tàng thư để phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước. Vì vậy, từ năm 1999 đến 31/12/2013 trên địa bàn tỉnh đã cấp giấy Chứng minh nhân dân cho 1.285.299 trường hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu chính đáng của công dân trong các quan hệ, giao dịch và đặc biệt là phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước về căn cước công dân cũng như công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
 Nhìn chung, công tác thực hiện chính sách, pháp luật về căn cước trên địa bàn tỉnh Bình Định đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện. Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp đã được chú trọng nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện cũng như cho việc giải quyết các nhu cầu của công dân. Đội ngũ cán bộ làm công tác tác cấp phát, quản lý Chứng minh nhân dân; khai thác sử dụng tàng thư căn cước công dân luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tích cực trong công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự. Ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về căn cước của nhân dân được nâng cao.
 Bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện chính sách, pháp luật về căn cước công dân trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần phải khắc phục như: Công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật về căn cước công dân từng lúc, từng nơi chưa được chú trọng, chủ động. Điều kiện cơ sở, vật chất các trang thiết bị phục vụ chưa đảm bảo nên việc cấp phát, quản lý, khai thác các dữ liệu tàng thư căn cước công dân chủ yếu được tiến hành theo phương pháp thủ công, giản đơn, trong khi quy mô dân số ngày càng tăng cao nên đòi hỏi phải có hệ thống chương trình quản lý hiện đại mới đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý. Đội ngũ cán bộ làm công tác này còn yếu về nghiệp vụ tin học, nhất là ở cơ sở. Một số trường hợp công dân lợi dụng những sơ hở của pháp luật hoặc ý thức công vụ của cán bộ, công chức trong việc thực thi công vụ nên đã thực hiện hành vi gian dối, vi phạm pháp luật trong quá trình yêu cầu cấp phát Chứng minh nhân dân.
 Trên cơ sở kết quả đạt được, những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường, căn cước của công dân, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, đại diện các sở, ban, ngành đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác này trong việc tổ chức thực hiện trong thời gian đến. Trong đó, cần tập trung việc sửa đổi, bổ sung, xây dựng và ban hành kịp thời các thể chế chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, căn cước của công dân đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Nâng cao chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên lĩnh vực môi trường, căn cước của công dân, cần thiết phải xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật có tính chất gây nguy hại cho xã hội của các tổ chức, pháp nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hoàn thiện chính sách về tổ chức, biên chức; tập trung đầu tư kinh phí, trang bị phương tiện, kỹ thuật tiên tiến để nhằm phục vụ tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu công việc trong quá trình tổ chức thực hiện.
 Qua kết quả làm việc, Đoàn khảo sát ghi nhận và đánh giá cao công tác tổ chức thực hiện cũng như các kiến nghị, đề xuất của Ủy ban nhân dân, đại diện các sở, ban, ngành của tỉnh Bình Định. Cơ bản, trong thời gian qua, tỉnh Bình Định đã thực hiện tốt các chính sách, pháp luật về môi trường, căn cước của công dân. Đồng thời lưu ý tỉnh cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho các ngành, các cấp, nhân dân quán triệt, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, các quy định của pháp luật về môi trường và căn cước của công dân. Các cơ quan quản lý nhà nước phải nâng cao trách nhiệm, thường xuyên tổ chức kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ và kiên quyết xử lý một cách kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, kết hợp với công tác cải cách thủ tục hành chính để nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia thực hiện các chính sách, pháp luật về môi trường, căn cước của công dân. Có như thế mới nâng cao hiệu lực của công tác quản lý nhà nước cũng như tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác này, góp phần vào việc đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay./.
♦ Lê Kim Chinh
 
Bình Định: Ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014
Thứ hai, 24 Tháng 3 2014 22:46
Ngày 12/3/2014, UBND tỉnh Bình Định đã ký Quyết định số 605/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2014 trên địa bàn tỉnh.
Mục đích của Kế hoạch là nhằm đánh giá thực trạng, hiệu quả việc thi hành pháp luật, kịp thời đôn đốc, tổ chức, hướng dẫn việc thi hành pháp luật; kiến nghị xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Đặc biệt năm 2014, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật sẽ được gắn với công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, chú trọng đánh giá tình hình thi hành pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của các chủ thể có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh trong tất cả các lĩnh vực để kịp thời phát hiện những sai phạm trong áp dụng pháp luật, kiến nghị các biện pháp xử lý và khắc phục hậu quả.
 Theo đó, toàn tỉnh sẽ tập trung tổ chức theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính. Trong đó:
Các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện theo dõi tình hình thi hành pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của các chủ thể có thẩm quyền xử lý, xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương và báo cáo kết quả thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của cơ quan, đơn vị, địa phương cho Sở Tư pháp (trước ngày 30/9/2014)
Ở cấp tỉnh: Sở Tư pháp là cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức theo dõi tình hình thi hành pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND các huyện: Tuy Phước, Tây Sơn và tình hình thi hành pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND các xã, thị trấn: Phước Quang, Phước Sơn, Diêu Trì (huyện Tuy Phước); Bình Thành, Tây Xuân, Phú Phong (huyện Tây Sơn).
Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật ở cấp tỉnh được tập trung thực hiện trong tháng 8, 9/2014 với các hoạt động chính: Điều tra, khảo sát mức độ am hiểu, tuân thủ pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân; tác động của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính đến nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật về xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan, tổ chức và người dân; kiểm tra về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý, xử phạt vi phạm hành chính, các Quyết định xử lý, xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND các huyện, xã, thị trấn được lựa chọntrong 02 năm (từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2013). /.
♦ Ngọc Chân
 
Nghiên cứu - Trao đổi: Bàn về chế định ly thân trong dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi)
Thứ hai, 17 Tháng 3 2014 22:59
Trong quá trình tham gia góp ý dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là dự thảo Luật), có nhiều ý kiến đề nghị cần bổ sung chế định ly thân vào dự thảo Luật, do những vấn đề về nhân thân, tài sản và con cái từ việc ly thân tồn tại phổ biến trong thực tế. Có ý kiến cho rằng, chế định ly thân cần phải được luật hóa để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh thực trạng này, đặc biệt là để bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho người phụ nữ. Ly thân là khoảng thời gian cần thiết để các cặp vợ chồng đang mâu thuẫn nhìn nhận lại mối quan hệ giữa hai bên, từ đó cân nhắc kỹ lưỡng có thể tiếp tục chung sống, hay quyết định ly hôn. Do đó, dự thảo Luật cần bổ sung chế định ly thân với tư cách là một quyền mới của các cặp vợ, chồng. Khi luật hóa chế định ly thân, những vấn đề như căn cứ ly thân, thủ tục đăng ký và chấm dứt ly thân, thời gian ly thân, hậu quả pháp lý, nghĩa vụ nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng, “cơ hội” cho người thứ ba ra sao… sẽ được quy định cụ thể, làm cơ sở điều chỉnh các bất cập phát sinh trong thực tiễn.
Một số chuyên gia nghiên cứu cho rằng, nếu hai bên không có yêu cầu bức thiết thì không nên chia tài sản chung và chia trách nhiệm nuôi con trong thời gian ly thân, vì rất có thể chính việc phân chia này sẽ tạo thêm mâu thuẫn, khiến quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn được. Hơn nữa, nếu phân chia cả tài sản lẫn trách nhiệm nuôi dưỡng con cái thì ly thân cũng gần giống như ly hôn. Tuy nhiên, Luật cần quy định, kể từ thời điểm ly thân, hai bên có quyền xác lập tài sản riêng để hạn chế các tranh chấp phức tạp nảy sinh sau này. Với những cặp vợ, chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, một bên cố tình níu giữ quan hệ hôn nhân bằng cách ly thân để “trả thù”, ngăn cản người kia tìm hạnh phúc mới thì đây cũng là một trong các căn cứ để Tòa án xem xét cho ly hôn khi không có sự thuận tình.
Theo quan điểm cá nhân tôi cũng như nhiều chuyên gia nghiên cứu không đồng tình với việc đưa chế định ly thân vào dự thảo Luật, mà phải cần cân nhắc thật kỹ lưỡng, dự báo hết những hậu quả xảy ra khi nhà nước can thiệp vào mối quan hệ giữa vợ, chồng trong giai đoạn ly thân, bỡi những lẽ sau:
  Thứ nhất: Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam là nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ, chồng bình đẳng. Khi có mâu thuẫn xảy ra thì vợ, chồng có quyền lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn một cách tốt nhất, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình. Đó là thông qua hòa giải để đoàn tụ, hoặc cần một thời gian để suy nghĩ lại, bỏ qua những tự ái cá nhân, những thiếu sót hoặc lỗi lầm của mỗi bên và có thể vì con cái, họ hàng mà tha thứ cho nhau để cùng chung sống hoặc quyết định ly hôn nếu không thể hàn gắn được.  
  Thứ hai:Khó xác định được một cặp vợ, chồng đang ly thân, đây là quan hệ riêng tư chỉ có hai vợ, chồng mới hiểu được, biết được, có khi ăn chung một mâm, ở chung một nhà mà không có quan hệ tình cảm với nhau thì có được xem là ly thân hay không?. Do đó, cần phải cân nhắc để tránh đưa vào Luật rồi khó thực hiện, không khả thi. Mặt khác, ly thân không trầm trọng như ly hôn mà chỉ là chia cắt về mặt tình cảm, còn các quan hệ khác không thay đổi, không chấm dứt quan hệ con cái, quan hệ tài sản và quan hệ họ hàng hai bên. Do đó, quy định ly thân trong dự thảo Luật không những không góp phần ổn định cuộc sống vợ, chồng mà còn tạo khoảng cách, dễ dẫn đến đổ vỡ, ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tác động rất sâu sắc đến quan hệ vợ, chồng và sự phát triển về tâm sinh lý của con cái.   
Thứ ba:Khi ly thân, nhiều phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, không tìm được nơi ở mới sau khi ly thân nên buộc phải sống với nhau trong cùng một gia đình, đây là một ức chế của cả hai vợ, chồng. Mặt khác, ly thân là vấn đề rất nhạy cảm và tinh tế, cả vợ và chồng không muốn để người ngoài biết, ngay cả những người thân thích của họ. Nếu như việc ly thân được đưa ra tòa án hoặc chứng thực tại cơ quan hành chính nhà nước thì sự việc sẽ được công khai, cả vợ và chồng không thể giấu được nữa, vô hình dung nhà nước lại tạo ra cho họ thêm mặc cảm với bạn bè, người thân.
  Thứ tư: Khi đã đưa chế định ly thân vào Luật thì thủ tục giải quyết việc ly thân không thua kém thủ tục ly hôn; đồng thời nếu vợ, chồng chấm dứt giai đoạn ly thân thì phải làm thủ tục đoàn tụ, lại một lần nữa phải xác lập thủ tục, gây phiền hà, tốn kém cho công dân; thực tế trong thời gian qua một số vụ án ly hôn, phân chia tài sản không được sự đồng thuận của hai bên, không được các cấp tòa án giải quyết thấu tình, đạt lý dẫn đến các vụ án hình sự nghiêm trọng, khó lường và gây dư luận xấu trong xã hội.
Từ những phân tich trên, theo tôi không nên đưa chế định ly thân vào dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi)./.
♦ Trần Văn Sang
 
Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ Luật hình sự của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
Thứ hai, 17 Tháng 3 2014 22:45
Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Từ khi ra đời đến nay, Bộ luật Hình sự là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, góp phần quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân, góp phần có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, hiện nay đất nước ta đã có những thay đổi to lớn về mọi mặt, các quan hệ xã hội có sự thay đổi căn bản và phát sinh nhiều quan hệ, hành vi phạm tội mới mà các quy định của pháp luật hình sự chưa điều chỉnh kịp thời, phù hợp. Vì vậy đòi hỏi phải sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật Hình sự để đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới.  
Trên địa bàn tỉnh Bình Định, công tác thi hành Bộ luật Hình sự trong những năm qua được thực hiện nghiêm túc, các quy định của Bộ luật Hình sự được áp dụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện. Các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt cơ chế phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan đến hoạt động đấu tranh phòng, chống và xử lý tội phạm. Việc tổ chức thi hành Bộ luật Hình sự đã nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm của cả hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, góp phần kiềm chế tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự thực sự là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tổ chức; đảm bảo tính phù hợp với Hiến pháp sửa đổi năm 2013, nhất là những sửa đổi liên quan đến bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự và các Luật khác có liên quan; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định kiến nghị một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung như sau:
Thứ nhất: Về mặt kỹ thuật lập pháp
Các nội dung của Bộ luật Hình sự cần phải được quy định rõ ràng, chặt chẽ và minh bạch hơn, đặc biệt là những nội dung liên quan đến mô hình thiết kế cấu thành của một số loại tội phạm; các quy định hình phạt trong cấu thành tội phạm; sự thống nhất giữa các quy định Phần chung và Phần các tội phạm cũng như việc sử dụng các thuật ngữ trong Bộ luật Hình sự, tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách dễ dàng, thuận tiện và thống nhất, hạn chế tình trạng phải hướng dẫn bằng một văn bản khác.
Thứ hai: Về các nội dung quy định cụ thể của Bộ luật Hình sự
Nội dung này cần tập trung sửa đổi, bổ sung các vấn đề:
1. Bổ sung vào Luật các quy định áp dụng việc xử lý hình sự đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là các pháp nhân. Bởi vì, thực tế hiện nay, một số pháp nhân vì chạy theo lợi ích cục bộ nên thực hiện hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế như đầu cơ, trốn thuế, kinh doanh trái phép, buôn lậu hoặc vi phạm các quy định về hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động…. gây hậu quả nghiêm trọng nhưng chưa có quy định xử lý hình sự nên đã xảy ra tình trạng các pháp nhân lợi dụng kẽ hở này gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Trong đó, pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp. Chế tài áp dụng đối với pháp nhân là giải thể pháp nhân, cấm phát hành séc, cấm có thời hạn hoặc vô thời hạn một số lĩnh vực hoạt động. Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung như tịch thu tài sản, phạt tiền khi không coi đó là hình phạt chính.
2. Hạ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự xuống từ đủ 13 tuổi. Bởi vì những năm gần đây, số trẻ em dưới 14 tuổi phạm tội ngày càng nhiều, không ít vụ việc hết sức nghiêm trọng và đang có chiều hướng gia tăng. Điều kiện sống của trẻ em ngày càng tốt hơn, cơ hội tiếp cận thông tin ngày càng mở rộng, trẻ được tham gia nhiều quan hệ xã hội từ rất sớm, nên trẻ ngày càng có nhiều kinh nghiệm sống, phán xét, xử lý tình huống khá hơn, năng lực pháp luật, năng lực hành vi có bước trưởng thành vượt bậc so với thế hệ trước.
3. Đề nghị nâng mức phạt tiền cao hơn mức phạt mà Bộ luật Hình sự hiện hành đã quy định để phù hợp với tình hình giá cả hiện nay và để nâng cao tính răn đe đối với người phạm tội, tránh trường hợp “nhờn” Luật hình sự và áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu tài sản do phạm tội mà có đối với các nhóm tội về tham ô, hối lộ, cố ý làm trái, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản và nhằm hạn chế trường hợp tẩu tán tài sản hoặc chấp nhận hy sinh quyền lợi bản thân, củng cố lợi ích cho người thân.
4. Đề nghị rà soát, sửa đổi các quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và xóa án tích trong phần chung của Bộ luật Hình sự nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa các quy định của Bộ luật Hình sự với Luật Thi hành án hình sự.
5. Đề nghị nên quy định hành vi cố tình không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án nhiều lần là tội phạm và có mức hình phạt tiền hoặc giam giữ đến 6 tháng nhằm đảm bảo kỷ cương pháp luật.
6. Đề nghị mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt không mang tính giam giữ như phạt tiền (nhất là các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, tham nhũng), cải tạo không giam giữ, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình; sửa đổi, bổ sung các quy định loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt, xóa án tích; quy định cụ thể, chặt chẽ việc áp dụng án treo. Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến khái niệm và phân loại tội phạm, cơ sở của trách nhiệm hình sự, các giai đoạn phạm tội, phạm tội có tổ chức, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vấn đề quyết định hình phạt;
7. Đề nghị điều chỉnh mô hình thiết kế cấu thành một số loại tội phạm theo hướng cụ thể, nhất quán rõ ràng, hạn chế những cấu thành tội phạm có dấu hiệu định tính hoặc dấu hiệu về hậu quả có tính chất định tính cao, khó xác định trong thực tiễn như dấu hiệu về hậu quả môi trường.
8. Đề nghị xóa bỏ hình phạt cảnh cáo vì nó không tước bỏ hoặc hạn chế bất cứ quyền lợi nào của người bị kết án mà chỉ gây tổn thất về tinh thần đối với họ nhưng sự tổn thất tinh thần này lại thuộc vào nhận thức, tâm lý của từng cá nhân. Mặt khác, quy định về hình phạt cảnh cáo cũng trái với quy định của Điều 26 về khái niệm hình phạt: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt trục xuất được quy định là một loại hình phạt trong hệ thống pháp luật hình sự của nước ta, song các quy định liên quan đến hình phạt lại thiếu đi các quy định gắn với hình phạt trục xuất như các quy định về xóa án tích (Điều 64, 65), thời hiệu thi hành bản án (Điều 55),… Do vậy cần quy định cụ thể các điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất trong Bộ luật Hình sự, bổ sung các quy định về thời hạn xóa án tích, thời hiệu thi hành bản án… đối với người bị kết án trục xuất. Hình phạt tử hình là hình phạt đặc biệt, nghiêm khắc nhất trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta và trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập của Việt Nam với cộng đồng quốc tế thì có thể trong thời gian đến hình phạt này sẽ bị loại trừ khỏi hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay hình phạt này vẫn còn được giữ lại, thì nên quy định như thế nào để vừa bảo đảm tính khái quát, tính khoa học vừa theo hướng nhân đạo hóa pháp luật hình sự. Do đó, nên quy định bổ sung vào Điều 35 về tử hình 02 nội dung mới là: Không áp dụng hình phạt tử hình đối với hai (02) đối tượng bị kết án là phụ nữ, người chưa thành niên và chỉ quy định tử hình đối với năm (05) nhóm tội đặc biệt nghiêm trọng là: tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm tính mạng con người; tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia; tội đặc biệt nghiêm trọng về tham nhũng; tội đặc biệt nghiêm trọng về ma túy; tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm hòa bình - an ninh của nhân loại. 
9. Đề nghị quy định cụ thể và khoa học hơn các quy định về trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định của Điều 15, 16, 51 của Bộ luật Hình sự; về tình tiết “gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm” tại Điểm c, Khoản 2, Điều 202 Bộ luật Hình sự, giải thích rõ như thế nào là bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Vì thực tế, có những trường hợp bỏ chạy vì lý do bị đe doạ đến tính mạng nhưng lại đến cơ quan công an gần nhất để khai báo, thì cũng là bỏ chạy nhưng không phải để trốn tránh trách nhiệm. Vấn đề này cần xem xét, xử lý cho thấu đáo, cụ thể và phù hợp, tránh trường hợp làm oan người vi phạm.
10. Về Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257, đề nghị quy định cụ thể nếu người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ mà gây thương tích bao nhiêu % thì bị xử phạt theo Điều 104 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
11. Đề nghị thiết kế, quy định các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trong các Điều 193, 196, 230, 232, 236, 238 Bộ luật Hình sự thành những điều luật riêng biệt và quy định cụ thể hơn về mức hình phạt cho từng hành vi để thuận lợi cho việc áp dụng và xử lý tội phạm. Vì thực tế, các hành vi như sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán được nhập chung vào một điều luật và có mức hình phạt ngang nhau là không phù hợp và khó áp dụng để xử lý.
12. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46, đề nghị quy định cụ thể, rõ ràng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tách các tình tiết quy định chung tại các điểm b, p,Khoản 1 thành những tình tiết độc lập; liệt kê thêm một số tình tiết giảm nhẹ trongKhoản 2, Điều 46. Điều 60 - Án treo, cần đưa thêm quy định phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là điều kiện tiên quyết để hưởng áo treo.
13. Về hình phạt tù quy định tại Khoản 1, Điều 74 thì mức hình phạt cao nhất của đối tượng từ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội là không quá 18 năm tù. Mức này là quá nhẹ, không phù hợp vì trên thực tế có trường hợp 17 tuổi gần đủ 18 tuổi nhưng đã phạm tội rất tàn ác, giết nhiều người gây ra hậu quả tàn khốc. Do đó, đề nghị nâng mức hình phạt tù cao nhất của đối tượng từ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội lên không quá 30 năm tù.
14. Đối với các tội về tham nhũng, đề nghị tăng hình phạt tiền, miễn hoặc giảm các hình phạt khác đối với những đối tượng có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo, khắc phục hậu quả theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), đồng thời đáp ứng yêu cầu của Công ước chống tham nhũng mà nước ta là thành viên.
15. Đề nghị bổ sung trong Điều 41 Bộ luật Hình sự về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm quy định trong trường hợp đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép nếu không xác định được sở hữu thì sung công quỹ. Quy định như vậy tạo điều kiện cho Tòa án có căn cứ để tuyên trong bản án.
16. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70, đề nghị cần quy định một cách chặt chẽ, cụ thể hơn vì lâu nay biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội ít có hiệu quả.
17. Đồng thời, đề nghị sửa đổi, bổ sung để nội luật hóa trong Bộ luật Hình sự các quy định có liên quan đến các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, tạo cơ sở pháp lý cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm, đặt biệt là các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia./.
♦ Lê Kim Chinh
 
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 của 16

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN