Thứ bảy, 20/09/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 9/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý Dự thảo, ngày 22/9/2014
( 27.08.14 )
Thông báo về việc chiêu sinh Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại
( 06.06.14 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định
( 08.08.14 )
Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay72
mod_vvisit_counterTất cả349597
Hoạt động xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản QPPL



Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ, ngày 13/8/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BTP Quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Theo đó, kể từ ngày 01/10/2014, trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật từ đề xuất xây dựng văn bản, lập đề nghị về Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đều phải thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới. Bảo đảm không làm phát sinh bất bình đẳng giới, bảo đảm quyền của mỗi giới trong nội dung, trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản. Bảo đảm sự tham gia của cơ quan lao động, thương binh và xã hội, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.
Các nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đó là: Xác định vấn đề giới, xem xét, phân tích để phát hiện trong lĩnh vực, quan hệ xã hội mà văn bản sẽ điều chỉnh có khả năng dẫn đến bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; Xác định nguyên nhân của vấn đề giới, bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử giới là do chưa có các quy định của pháp luật để điều chỉnh hoặc do chính nội dung các quy định của pháp luật hoặc do thiếu các biện pháp để đảm bảo thi hành, do quá trình tổ chức thi hành hoặc do không có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, không có các biện pháp để bảo vệ bà mẹ và trẻ em; Trên cơ sở xác định vấn đề giới, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề giới; Đánh giá tác động về chính sách, giải pháp để giải quyết vấn đề giới; Xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong dự kiến chính sách, dự thảo văn bản.
Hàng năm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo số lượng, tỷ lệ văn bản được lồng ghép vấn đề bình đẳng trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật do mình chủ trì soạn thảo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền./.
♦ G.H
 
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị chấn chỉnh trình trạng lạm dụng về bản sao chứng thực
Thứ sáu, 05 Tháng 9 2014 04:28
Để thực hiện có hiệu quả công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà và giảm chi phí cho công dân trong lĩnh vực chứng thực, ngày 20/6/2014 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với các giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. Nọi dung Chỉ thị yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về quyền của các cá nhân, tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thành phần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu. Đồng thời chỉ đạo việc quán triệt thực hiện nghiêm túc quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính.
Theo đó, khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không có chứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao có chứng thực.
Bên cạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và thực hiện nghiêm túc các quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, các ngành, các cấp khẩn trương thực hiện việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo hướng cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính tại cơ quan, tổ chức có quyền lựa chọn nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu; hoàn thành trước ngày 31/3/2015.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chỉ đạo các cơ quan, tổ chức trực thuộc có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính rà soát những văn bản hành chính do cơ quan, tổ chức ban hành dưới hình thức quyết định, thông báo, công văn và các hình thức văn bản khác, phát hiện những quy định về thủ tục hành chính trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP; tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới thay thế theo thẩm quyền cho phù hợp; hoàn thành trước ngày 31/3/2015.
Ở địa phương, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ban, ngành trong địa phương tổ chức phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nội dung quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP theo tinh thần trên. Đồng thời, có trách nhiệm chỉ đạo các sở, ban, ngành trong địa phương tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành hoặc những văn bản do cơ quan, tổ chức trực thuộc ban hành dưới hình thức quyết định, thông báo, công văn và các hình thức văn bản khác, phát hiện những quy định về thủ tục hành chính trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền cho phù hợp; hoàn thành trước ngày 31/3/2015.
Tăng cường kiểm tra cách thức tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chấn chỉnh kịp thời tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực giấy tờ, văn bản trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP. Cần phải bố trí đủ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu sao giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính. Thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính./.
♦ Lê Kim Chinh
 
 
Giá trị nguồn tài liệu lưu trữ đối với việc nghiên cứu nâng cao chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Thứ tư, 06 Tháng 8 2014 10:51
Công tác văn thư, lưu trữ có vai trò quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó quan trọng bởi theo quy định, những tài liệu lưu trữ đều là bản gốc, bản chính, có giá trị pháp lý, có tính chất làm bằng chứng lịch sử. Chính vì ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn đó, ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ‎, coi đây là công cụ để quản lý, điều hành đất nước. Đã có rất nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước quy định về công tác công văn, giấy tờ. Công tác lưu trữ được ban hành, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành văn thư, lưu trữ từ Trung ương đến địa phương từng bước được hoàn thiện.
 Khởi đầu quy định về công tác văn thư lưu trữ là Thông đạt số 1C/VP ngày 03/01/1946 về công tác công văn giấy tờ do Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, trong đó Người đã chỉ rõ: “Tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia”, Người yêu cầu các Bộ trưởng, Trưởng ban “chỉ thị cho nhân viên các sở phải giữ gìn công văn, tài liệu và cấm không được hủy bỏ các công văn, tài liệu ấy”, “Hồ sơ hoặc công văn không cần dùng sau này sẽ phải gửi về những Sở lưu trữ công văn thuộc Bộ Quốc gia giáo dục để tàng trữ”. Sau một thời gian xây dựng bộ máy nhà nước, công tác văn thư lần đầu tiên được đề cập một cách có hệ thống trong Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác văn thư lưu trữ, ban hành kèm theo Nghị định số 142/CP năm 1963 của Chính phủ. Từ đó đến nay, các quy định của pháp luật về công tác văn thư lưu trữ đã từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30/11/1982, Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia ngày 04/4/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 8/7/2004 và đặc biệt là Luật Lưu trữ được Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Khóa XIII, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11/11/2011, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2012 với mục tiêu bảo vệ an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia; nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đối với việc bảo vệ, quản lý và sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia.
 Xuất phát từ ý nghĩa tầm quan trọng của công tác văn thư lưu trữ đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật thì vai trò của các tài liệu thư lưu trữ càng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhất là đối với việc nghiên cứu nâng cao chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Bởi vì, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì: “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ”. Quy định này của Luật cũng không nằm ngoài mục đích là làm cơ sở cho việc phục vụ công tác nghiên cứu nhằm nâng cao chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật của nguồn tài liệu lưu trữ. Ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của nguồn tài liệu lưu trữ trong việc phục vụ công tác nghiên cứu nhằm nâng cao chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện trên các khía cạnh cụ thể sau:
   1. Nguồn tài liệu lưu trữ có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng thể chế hành chính nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của hệ thống thể chế hành chính
 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay là xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì  nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước tôn trọng pháp luật, theo tinh thần “thượng tôn luật pháp”, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nêu cao vai trò quản lý nhà nước bằng luật pháp. Vì vậy, việc ban hành các thể chế, chính sách pháp luật - công cụ có ý nghĩa tích cực trong việc quản lý xã hội - là nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong quá trình vận hành của nhà nước. Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo các nguyên tắc do Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 nói chung và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 nói riêng là điều kiện bắt buộc để pháp luật trở thành công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý, điều hành xã hội. Muốn đảm bảo được yêu cầu này thì trong quá trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền cần phải vận dụng, sử dụng một cách khoa học nguồn tư liệu, tài liệu lưu trữ. Nếu không vận dụng tốt nguồn tài liệu này thì các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không thể phát huy được giá trị, vai trò của mình trong quá trình tổ chức thực hiện. Việc sử dụng các nguồn tài liệu lưu trữ trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có các yếu tố tích cực là:
Thứ nhất, việc khai thác thông tin phục vụ soạn thảo, ban hành văn bản quản lý nhà nước có thể từ nhiều nguồn khác nhau nhưng nguồn thông tin từ tài liệu lưu trữ có vai trò quan trọng vì tính chính xác, độ tin cậy cao, thuận lợi, nhanh chóng, tiết kiệm. Vai trò quan trọng của tài liệu lưu trữ thể hiện ngay khi định hướng nội dung, xác định nhu cầu ban hành văn bản quản lý nhà nước cần phải nghiên cứu các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến vấn đề đó thông qua các tài liệu lưu trữ, bảo đảm văn bản được xây dựng trên cơ sở chính trị và pháp luật theo đúng định hướng XHCN. Nghiên cứu hệ thống văn bản quản lý nhà nước đã quy định về cùng vấn đề đó, để xác định vấn đề đã được điều chỉnh, giải quyết chưa, điều chỉnh, giải quyết bằng cách nào, hiệu quả như thế nào, nhằm bảo đảm tính hệ thống, tính khả thi, sát hợp với thực tế của văn bản. Nghiên cứu thực trạng xã hội được phản ánh qua các tài liệu lưu trữ để văn bản đang soạn thảo phù hợp với thực tế phát triển của đời sống xã hội… vì toàn bộ nguồn thông tin văn bản sử dụng để nghiên cứu đều đã qua các khâu xử lý nghiệp vụ của công tác lưu trữ: thu thập, tra tìm, lựa chọn, tổ chức khai thác sử dụng văn bản.
Thứ hai,xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, kế thừa các giá trị pháp lý truyền thống, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước.
 Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, chỉ trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị pháp lý truyền thống, tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn cụ thể thì mới có được các đạo luật có tính khả thi cao. Thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta trong những năm qua cho thấy nhà làm luật đã cố gắng kế thừa phát triển những giá trị pháp lý truyền thống, tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của các nước và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Kết quả là chúng ta đã ban hành các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 cũng như các bộ luật như: Bộ luật Hình sự năm 1985, năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005…Nội dung của các văn bản này tuy được ban hành trong những thời điểm khác nhau nhưng có tính kế thừa của nhau dựa trên những thông tin quá khứ để nghiên cứu tìm ra quy luật vận động, từ đó dự báo về xu hướng phát triển của vấn đề trong tương lai, nhất là sự vận động của đối tượng chịu sự tác động của văn bản đang soạn thảo; tìm hiểu đối tượng của văn bản đã hiểu và quan tâm, chờ mong gì về vấn đề đó; dự đoán phản ứng của họ khi nhận được văn bản. Từ đó tìm ra cách thức tác động phù hợp với quy luật vận động của đời sống xã hội và định hướng của Nhà nước. Việc kế thừa này được dựa vào nguồn tài liệu lưu trữ quan trọng do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện.
Thứ ba, cùng với việc nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, trong quá trình xây dựng một văn bản, cần phải nghiên cứu pháp luật liên quan đến nội dung văn bản của giai đoạn trước, nhằm đánh giá những thành công, thất bại của từng văn bản, từng quy định; tìm hiểu nguyên nhân để kế thừa, phát huy giá trị tích cực, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, những thiệt hại có thể xảy ra cho xã hội của văn bản mới. Khi ban hành văn bản áp dụng pháp luật, phải tiến hành nghiên cứu hệ thống các quy phạm pháp luật đã được ban hành (hệ thống các văn bản đó được lưu giữ ở lưu trữ hiện hành là phổ biến) để bảo đảm văn bản áp dụng pháp luật đó là đúng thẩm quyền và có nội dung phù hợp với pháp luật hiện hành.
Nhìn chung, quá trình thu thập thông tin từ tài liệu lưu trữ không qua nhiều khâu trung gian, được thực tiễn kiểm nghiệm, nguồn thông tin diện rộng, phong phú, nhanh chóng, tiết kiệm sẽ phục vụ đắc lực cho việc xây dựng hệ thống thể chế nền hành chính nhà nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả cho hệ thống thể chế nền hành chính nhà nước, bảo đảm cung cấp thông tin cho hoạt động xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và văn bản quản lý nhà nước nói chung.
   2. Nguồn tài liệu lưu trữ có ý nghĩa trong việc thực hiện nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
 Theo quy định của Luật Ban hành văn bản nói chung thì có một nguyên tắc hết sức quan trọng là: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp dụng văn bản mới”. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân: “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân. Trong trường hợp các Nghị quyết của cùng một Hội đồng nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng các quy định của nghị quyết được ban hành sau. Trong trường hợp các quyết định, chỉ thị của cùng một Ủy ban nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quyết định, chỉ thị được ban hành sau”.
Như vậy, cơ quan ban hành văn bản phải định rõ thời hạn văn bản có hiệu lực thi hành, phạm vi và mức độ mà các cơ quan có nhiệm vụ thi hành được phép truyền đạt, phổ biến cũng như áp dụng trong những trường hợp cụ thể. Cơ quan có trách nhiệm thi hành phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy phạm của văn bản, không được tùy tiện phổ biến, áp dụng sai nội dung, sai thời điểm văn bản quy định hoặc phổ biến, áp dụng không đúng đối tượng áp dụng, thời điểm áp dụng, không được tự ý sửa đổi, bổ sung các văn bản đó. Tuy nhiên, áp dụng pháp luật còn là một hoạt động sáng tạo để trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự trong những thời điểm cụ thể.
Có một thực tế là, trong áp dụng pháp luật cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện thường chú ý hơn đến các văn bản đang có hiệu lực thi hành mà ít chú ý đến nguyên tắc: Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực”. Trong khi đó, nếu có xảy ra tranh chấp hoặc khiếu nại, khiếu kiện mà những hành vi đó phát sinh tại một thời điểm cụ thể thì cần phải căn cứ các quy định của pháp luật đang có hiệu lực thi hành ngay thời điểm đó để làm căn cứ, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết. Trong trường hợp này, nguồn tài liệu lưu trữ là các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và có hiệu lực áp dụng trong thời điểm đó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì các văn bản được lưu trữ là các văn bản gốc nên có nội dung đảm bảo độ chính xác cao so với các văn bản được sao chép thông qua các phương tiện khác. Nếu không tiếp cận được nguồn tài liệu lưu trữ này thì có nhiều trường hợp lúng túng vì không tin vào độ an toàn, chính xác về nội dung văn bản mà người có thẩm quyền đang nắm giữ nên có thể xảy ra trường hợp giải quyết không đúng với tinh thần về nội dung mà các văn bản quy phạm pháp luật đã quy định. Ðiều này hạn chế sự phát huy của pháp luật.
   3. Giá trị nguồn tài liệu lưu trữ có ý nghĩa cho công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và lập Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia
   Một trong những điều kiện bắt buộc trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay của mỗi quốc gia là hệ thống pháp luật phải được rõ ràng, công khai và minh bạch. Do đó, hệ thống pháp luật của quốc gia đó phải được lưu trữ đầy đủ, thường xuyên được kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản là lập Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, việc xây dựng Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia thông qua nguồn tài liệu lưu trữ có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản.
   Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia giúp cho việc tìm kiếm văn bản thuận lợi và nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc kiểm tra thường xuyên, kịp thời trong hoạt động kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản. Kết quả của việc tra cứu, tìm kiếm từ Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia chính là những văn bản được dùng làm căn cứ pháp lý để kiểm tra, là cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản. Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia còn là nơi tổng hợp và lưu trữ đầy đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến nghiệp vụ kiểm tra văn bản. Với tính chất như vậy, về lâu dài, khi đã được tin học hóa, Hệ cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia không chỉ là nơi tra cứu, tìm kiếm văn bản làm căn cứ kiểm tra và các thông tin, tư liệu có liên quan mà còn có thể được phát triển, bổ sung chức năng để trở thành diễn đàn trao đổi, thảo luận, nghiên cứu thông tin nghiệp vụ có liên quan của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác kiểm tra văn bản. Như vậy, làm tốt các khâu nghiệp vụ của công tác lưu trữ góp phần thúc đẩy cho hoạt động hệ thống hóa pháp luật (tập hợp hóa và pháp điển hóa) được tốt, góp phần loại bỏ những quy phạm lỗi thời, làm giảm sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo được tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật quốc gia.
   Nói tóm lại, trong lĩnh vực xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật, giá trị nguồn tài liệu lưu trữ đối với việc nghiên cứu nâng cao chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì văn bản quy phạm pháp luật là nguồn tư liệu lịch sử quý giá cho chúng ta hình dung được lịch sử nhà nước và pháp luật của đất nước. Có thể tìm thấy trong chúng những định chế cơ bản của nếp sống, của văn hóa trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau của sự phát triển xã hội, phát triển đất nước, những tư tưởng và quan điểm trong cách quản lý và điều hành đất nước. Có thể nói văn bản quy phạm pháp luật là phần tiêu cự của tấm gương phản ánh lề lối của từng thời kỳ là một biểu hiện của văn hóa quản lý. Thể hiện trình độ văn minh pháp lý của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Do đó, việc lưu trữ tài liệu là các văn bản quy phạm pháp luật sẽ có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một nếp sống mới cho xã hội. Đồng thời phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhằm góp phần nâng cao văn hóa quản lý, tạo nên một di sản văn hóa pháp lý có giá trị cho đất nước mai sau./.
♦ Lê Kim Chinh
 
Ngiên cứu, trao đổi: Bàn về cách ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong tác biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính
Thứ năm, 24 Tháng 7 2014 22:22
Xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính nói riêng là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý hành chính của Nhà nước. Đây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Nhằm phát huy vai trò của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, ngày 19/7/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó có danh mục một số biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP bước đầu đã tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhất là đối với những quy định chưa được cụ thể hóa trong Luật. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác xử lý vi phạm hành chính một cách chính xác, đúng các nguyên tắc xử lý theo quy định của Luật thì Nghị định này cũng có một số nội dung mà cách hiểu, cách áp dụng chưa được thống nhất hoặc chưa được sự đồng thuận cao trong quá trình tác nghiệp của các đối tượng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính nói riêng. Trong đó có việc ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong các biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính.
Để sử dụng các loại biểu mẫu được thống nhất, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ban hành kèm theo Phụ lục 32 biểu mẫu trong xử phạt vi phạm hành chính (gồm 20 mẫu Quyết định; 11 mẫu biên bản và 01 mẫu văn bản giao quyền xử lý vi phạm hành chính). Nội dung các biểu mẫu này đều cụ thể, rõ ràng nên quá trình thực hiện có nhiều thuận lợi cho các đối tượng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc ghi tên cơ quan ban hành văn bản trong các biểu mẫu xử phạt vi phạm hành chính thì đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập vì có 2 cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Cách hiểu và vận dụng thứ nhất: Hướng dẫn việc trình bày các biểu mẫu trong việc xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định: “Những yêu cầu về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản đối với các biểu mẫu dùng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính về phông chữ trình bày văn bản; Về khổ giấy, kiểu trình bày, định lề trang văn bản; Về thể thức và kỹ thuật trình bày quốc hiệu; Về thể thức và kỹ thuật trình bày tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; Về thể thức kỹ thuật trình bày số văn bản; Về thể thức trình bày địa danh, ngày tháng năm ban hành văn bản”. Trong đó lưu ý: Riêng đối với văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã thì phải ghi rõ cấp tỉnh, cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp huyện thì phải ghi rõ cấp tỉnh. Vì vậy, một số trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra Quyết định xử phạt thì vận dụng và trình bày bằng hình thức ghi rõ phần cơ quan ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên Ủy ban nhân dân cấp huyện và sau đó mới ghi tên cơ quan là Ủy ban nhân dân cấp xã của người có thẩm quyền ban hành Quyết định. Một số ý kiến cho rằng cách trình bày này là phù hợp theo hướng dẫn tại biểu mẫu Quyết định số 19 được ban hành tại Danh mục phụ lục biểu mẫu kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và phân biệt rõ tên đơn vị hành chính giữa các địa phương trong phạm vi toàn quốc, đảm bảo được yêu cầu của việc thực hiện cung cấp thông tin cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu công tác xử phạt vi phạm hành chính.
Cách hiểu và vận dụng thứ hai: Đa số ý kiến không đồng tình với cách trình bày như hướng dẫn biểu mẫu Quyết định số 19 của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP vì không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với quy định về kỹ thuật trình bày văn bản (văn bản chuyên ngành) theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội dòng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và nguyên tắc tổ chức của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Bởi vì, cách trình bày này sẽ dẫn đến cách hiểu: Ủy ban nhân dân cấp trên là cơ quan chủ quản của Ủy ban nhân dân cấp dưới. Điều này là không phù hợp với nguyên tắc tổ chức do Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 vì Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và Ủy ban nhân dân cấp trên không phải là cơ quan chủ quản của Ủy ban nhân dân cấp dưới. Do đó, trong trường hợp này nên trình bày bằng hình thức là ghi tên của Ủy ban nhân dân cấp xã của người có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt, sau đó chỉ cần ghi tên huyện, tên tỉnh của đơn vị hành chính đó là hợp lý hơn. Cụ thể, cách trình bày như sau: UBND XÃ (A) HUYỆN (B) TỈNH (C). Cách trình bày này vừa đảm bảo tính thống nhất với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 về nguyên tắc tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đồng thời phù hợp với các văn bản của Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn về cách trình bày văn bản hành chính mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của việc phân biệt rõ tên đơn vị hành chính giữa các địa phương trong phạm vi toàn quốc, đảm bảo được yêu cầu của việc thực hiện cung cấp thông tin cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu công tác xử phạt vi phạm hành chính.
 Từ cách hiểu và vận dụng như trên, trong quá trình tác nghiệp việc trình bày tên cơ quan của người có thẩm quyền ban hành các biểu mẫu kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP không thống nhất, gây có khăn cho công tác theo dõi nhưng vấn đề cần lưu ý là sai thẩm quyền về hình thức của biểu mẫu được sử dụng trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính. Điều này có thể dẫn đến hậu quả Quyết định đó bị các cơ quan có thẩm quyền tuyên hủy vì không phù hợp theo quy định của Điều 32 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP nếu Quyết định bị khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định. Do vậy, đề nghị Bộ Tư pháp cần nghiên cứu và có ý kiến đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định này cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật./.
♦ Lê Kim Chinh
 
Góp ý dự thảo Luật ban hành Văn bản QPPL: Những vấn đề cần bàn thêm về văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã
Thứ ba, 22 Tháng 7 2014 01:03
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 (Luật năm 2004) thì HĐND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương. Luật năm 2004 quy định nội dung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã căn cứ vào lĩnh vực, phạm vi quản lý nhà nước của HĐND, UBND cấp huyện, xã được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND, do vậy nội dung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND trùng với thẩm quyền quản lý được quy định trong Luật Tổ chức HĐND và UBND. Cụ thể:
- Nghị quyết của HĐND cấp huyện được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định của UBND cấp huyện được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106 và 107 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Nghị quyết của HĐND xã, thị trấn được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, đời sống, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương trên địa bàn xã, trị trấn quy định tại các điều 29, 30, 31, 32, 33 và 34 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định của UBND cấp xã được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 và 117 của Luật Tổ chức HĐND, UBND và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp tại dự thảo Tờ trình Chính phủ Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì qua 9 năm thực hiện Luật năm 2004 các cơ quan nhà nước ở địa phương đã ban hành 284.519, trong đó cấp huyện có: 25.625 Nghị quyết của HĐND; 47.919 Quyết định của UBND; 7.626 Chỉ thị của UBND. Cấp xã có: 126.163 Nghị quyết của HĐND; 39.419 Quyết định của UBND và 6.534 Chỉ thị của UBND. Với con số này có thể thấy rằng nhu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp huyện và cấp xã là rất lớn, bởi trên thực tế văn bản quy phạm pháp luật chính là công cụ hữu hiệu để giúp các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình. Tuy nhiên, hiện có hai tồn tại làm giảm chất lượng và hiệu quả điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật cấp huyện và cấp xã đó là:
Thứ nhất, tình trạng sao chép lại nội dung của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Người viết cho rằng thực trạng này không những gây lãng phí thời gian, tiền bạc và nguồn lực cho hoạt động xây dựng văn bản mà còn vi phạm quy định về việc không được quy định lại nội dung đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai, có một số lượng không nhỏ văn bản quy phạm do cấp huyện, cấp xã ban hành có nội dung không thống nhất, mâu thuẫn và trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Tình trạng này xuất phát từ thực tế về đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra, theo người viết thì còn có một nguyên nhân khách quan khác nữa đó là thông thường khi phân công, phân cấp cho địa phương ban hành, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên thường cho phép địa phương đặt ra quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương. Ví dụ: điểm b khoản 3 Điều 5 Thông tư số 08/2014/TT-BXD (có hiệu lực kể từ ngày 08/7/2014) phân công trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh trong việc lựa chọn chủ đầu tư dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quy định cụ thể việc đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương” hoặc điểm b Khoản 1 Điều 14 Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố quy định Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm “ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phù hợp với tình hình thực tế của địa phương”. Quy định này mục đích là cho phép các địa phương linh hoạt đặt ra các quy định phù hợp với đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, dân cư và ý thức chấp hành pháp luật của người dân ở địa phương để nâng cao tính khả thi của văn bản, tuy nhiên nó đồng thời cũng dẫn đến sự tùy tiện đặt ra những quy định chồng chéo, mâu thuẫn và thậm chí trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Với những thực trạng nêu trên, việc cơ quan soạn thảo đặt ra mục tiêu hạn chế chủ thể ban hành văn bản nhằm làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đơn giản, minh bạch, rõ ràng, dễ tiếp cận, dễ áp dụng hơn để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích công dân, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, giảm mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, và điều quan trọng hơn là để các quy định về thẩm quyền, thể loại và trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã phù hợp với tình hình thực tế và phát huy vai trò trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương thì người viết cho rằng cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, theo dự thảo Luật thì HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được giao trong Luật tổ chức chính quyền địa phương. Văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã phải được UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt. Với mục tiêu giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương, quy định này nhằm đảm bảo văn bản của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ được ban hành trong trường hợp thật cần thiết và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan ban hành. Tuy nhiên, người viết cho rằng nếu quy định chung chung nội dung văn bản quy phạm của HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã như trên có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc ban hành văn bản, đồng thời việc đặt ra cơ chế phải được UBND cấp trên trực tiếp phê duyệt sẽ làm cho quy trình, thủ tục ban hành văn bản của cấp huyện, cấp xã trở nên rườm rà và phức tạp. Do vậy, dự thảo Luật nên cân nhắc quy định HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được giao trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc HĐND, UBND cấp trên trực tiếp giao cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp quy định như vậy, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã vừa không thể tùy tiện ban hành văn bản, vừa không cần phải có sự phê duyệt của UBND cấp trên trực tiếp.
Thứ hai, khoản 3 Điều 22 dự thảo Luật quy định giao Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về trình tự, thủ tục ban hành, phê duyệt văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã. Tuy nhiên, người viết cho rằng cơ quan soạn thảo nên cân nhắc thêm nội dung này. Bởi vì, dự thảo Luật không quy định hình thức Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội là văn bản quy phạm pháp luật, mà Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chỉ ban hành pháp lệnh để quy định những nội dung được Quốc hội giao trong luật sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật (Điều 12). Như vậy, nếu chỉ để quy định trình tự, thủ tục ban hành, phê duyệt văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã mà phải ban hành pháp lệnh là không cần thiết và không phù hợp với mục tiêu giảm số lượng văn bản quy phạm pháp luật mà dự thảo Luật đã đặt ra. Do đó, những vấn đề này nên được quy định cụ thể, chi tiết trong dự thảo Luật là phù hợp hơn với phạm vi điều chỉnh của Luật.
Thứ ba, dự thảo Luật quy định HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng không quy định cụ thể loại văn bản được ban hành là không rõ ràng, dễ gây nhầm lẫn. Người viết cho rằng để thống nhất với thẩm quyền của HĐND, UBND cấp tỉnh, dự thảo Luật nên quy định cụ thể HĐND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã có thẩm quyền ban hành quyết định tại khoản 2 Điều 3 để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, không nên quy định chung chung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã như trong dự thảo Luật./.
♦ Trần Thị Túy
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 của 18

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN