Chủ nhật, 26/10/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 10/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý Dự thảo, ngày 29/9/2014
( 27.08.14 )
Thông báo về việc chiêu sinh Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại
( 06.06.14 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định
( 08.08.14 )
Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay263
mod_vvisit_counterTất cả371903
Điểm mới của Nghị định số 04/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
Thứ ba, 05 Tháng 3 2013 15:26

       Ngày 07/01/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.
       Nghị định 04 số 04/2013/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là NĐ 04) gồm 5 chương, 26 điều, hướng dẫn thi hành các quy định về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng. Tính đến thời điểm này, sau khi Luật công chứng (năm 2006) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đến nay, đây là Nghị định mới thay thế cho Nghị định số 02/2008/NĐ-CP (ngày 04/01/2008) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng.
       Bài viết sau đây trình bày các nội dung mới đáng chú ý trong Nghị định này. Đồng thời, chúng tôi cũng nêu một vài phân tích và nhận định trên cơ sở đối chiếu với các quy định khác của pháp luật có liên quan.

1. Quy định về công chứng viên: Hành nghề chuyên trách và Nâng cao nghiệp vụ bắt buộc.
Nhằm phát triển đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hóa, Nghị định có các quy định mang tính bắt buộc về hành nghề chuyên trách và đào tạo nâng cao:
- Hành nghề chuyên trách: NĐ 04 nêu rõ tại Điều 2: “công chứng viên phải hành nghề chuyên trách”, không được kiêm nhiệm các chức danh tư pháp cụ thể như: “luật sư, đấu giá viên, trọng tài viên, thừa phát lại và các chức danh tư pháp khác”. Theo Luật Công chứng, Điều 20 chỉ nêu các trường hợp công chứng viên bị miễn nhiệm, trong đó có trường hợp bị miễn nhiệm khi công chứng viên “kiêm nhiệm công việc khác” mà không nói rõ là công việc gì.
- Nâng cao nghiệp vụ cho công chứng viên: Theo NĐ 04: “Công chứng viên đang hành nghề công chứng có nghĩa vụ tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm. Thời gian bồi dưỡng tối thiểu là ba ngày” (Điều 3). Khóa học này do Bộ Tư pháp tổ chức.
Quy định này là bắt buộc, và nếu “không tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật hoặc theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên”.
- Ngoài ra, tương tự như quy định trước đây, NĐ 04 cũng chỉ rõ: trường hợp luật sư được bổ nhiệm làm công chứng viên để hành nghề công chứng thì khi làm thủ tục đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng hoặc ký hợp đồng làm việc với Văn phòng công chứng phải có xác nhận của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư về việc rút tên khỏi danh sách thành viên của Đoàn luật sư và giấy tờ chứng minh đã chấm dứt hành nghề luật sư. NĐ 04 hướng dẫn chi tiết trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng có nhu cầu được bổ nhiệm công chứng viên để hành nghề tại Văn phòng công chứng thì trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên phải kèm theo giấy tờ chứng minh đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng.
2. Quy định về tổ chức hành nghề công chứng: Khuyến khích phát triển các Văn phòng công chứng; chỉ thành lập Phòng công chứng nếu không phát triển được Văn phòng công chứng
- Việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải tuân theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng:
Theo Luật Công chứng, thủ tục thành lập tổ chức hành nghề công chứng là khá thuận tiện và dễ dàng, cụ thể: 
i) + đối với tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng quy định tại Điều 24: “Phòng công chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập” trên cơ sở Đề án do Sở Tư pháp xây dựng “căn cứ vào nhu cầu công chứng tại địa phương”
ii) + Trong khi đó, đối với tổ chức hành nghề công chứng là Văn phòng công chứng thì công chứng viên đủ điều kiện chỉ cần hoàn tất hồ sơ đề nghị và “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng”.
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của lĩnh vực công chứng và nhằm đảm bảo việc xã hội hóa hoạt động công chứng có bước đi phù hợp, Điều 7 của NĐ 04 quy định rõ: “Việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng, bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng phải tuân theo Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
Theo NĐ 04, việc xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng để cấp phép thành lập các tổ chức hành nghề công chứng phải “Căn cứ quy định của Luật công chứng, Nghị định này và Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”. Đồng thời “Việc xét duyệt hồ sơ phải bảo đảm sự công khai, minh bạch, phù hợp với quy hoạch, khuyến khích phát triển các Văn phòng công chứng có nhiều công chứng viên, có cơ sở vật chất, bộ máy hoạt động và đội ngũ công chứng viên, nhân viên lành nghề.”
- Khuyến khích phát triển các Văn phòng công chứng; chỉ thành lập Phòng công chứng nếu không phát triển được Văn phòng công chứng.
Nghị định khuyến khích thành lập các Văn phòng công chứng. Chỉ thành lập Phòng công chứng trong trường hợp không phát triển được Văn phòng công chứng. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện và hỗ trợ cho việc thành lập và phát triển các Văn phòng công chứng ở những địa bàn khó khăn.
Bên cạnh đó, đối với hoạt động của Văn phòng công chứng, Nghị định quy định về điều kiện cụ thể đối với Trụ sở; mẫu con dấu; chế độ hợp đồng lao động với công chứng viên, thủ tục chuyển đổi, trường hợp tạm ngừng, chấm dứt hoạt động … Đáng chú ý là quy định về việc xây dựng cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin về hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản đã được công chứng trên cơ sở phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực Xây dựng, Tài nguyên môi trường (Văn phòng đăng ký sử dụng đất) và các tổ chức hành nghề công chứng …
3.   Các quy định về nghiệp vụ, thẩm quyền của tổ chức hành nghề công chứng:
Kế thừa các quy định trước đây tại Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 “Về công chứng, chứng thực” (trước khi có Luật công chứng), Nghị định quy định rõ về việc công chứng ủy quyền, thừa kế tài sản: i) Đối với việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành hợp đồng ủy quyền; ii) Đối với việc công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, khai nhận di sản thừa kế phải được niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi có các di sản thừa kế đó.
Ngoài ra, NĐ 04 còn quy định thẩm quyền được chứng nhận của công chứng viên đối với trường hợp công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở; đồng thời chấm dứt (bãi bỏ) các quy định về thẩm quyền của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế… trong việc xác nhận đối với các loại giao dịch nói trên.
Phụ lục:
Hỏi: Những quy định nào của NĐ 04 là đáng quan tâm nhất?
Trả lời:  Theo ý kiến cá nhân, bên cạnh nhiều điểm đáng quan tâm như đã trình bày, có 02 vấn đề cần được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi là:
i) quy định về việc niêm yết văn bản công chứng về thừa kế; 
ii) quy định về thẩm quyền của Ban quản lý KCN, KCX, KKT trong việc xác nhận các giao dịch về bất động sản
-         Chuyển giao thẩm quyền của Ban quản lý KCN, KCX, KKT … sang tổ chức hành nghề công chứng
Hỏi: Về việcchấm dứt (bãi bỏ) các quy định về thẩm quyền của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế… trong việc xác nhận đối với các loại giao dịch về bất động sản có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời: Nghị định số 17/2006/NĐ-CP năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định : “Trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao thì phải có xác nhận của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao”
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế quy định Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế có nhiệm vụ: “Xác nhận hợp đồng, văn bản về bất động sản trong khu công nghiệp, khu kinh tế cho tổ chức có liên quan”
NĐ 04 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/02/2013 và bãi bỏ quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 29, và Điểm 1.a Khoản 10 Điều 2 Nghị định 17 (như đã nêu trên)
Việc này sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp trong các KCN, KKT. KCNC phải tiến hành các giao dịch tại các tổ chức hành nghề công chứng, và đương nhiên phải nộp phí công chứng theo quy định tại Thông tư 08/2012/TTLT của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (được biết, lâu nay Ban quản lý xác nhận thì không phải nộp phí công chứng).
Hỏi: Có thông tin cho biết Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến về việc bãi bỏ bãi bỏ yêu cầu yêu cầu bắt buộc công chứng đối với các hợp đồng: cho thuê quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; cho mượn, cho ở nhờ nhà ở; cho thuê nhà ở; ủy quyền quản lý nhà ở theo Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ.
Trả lời: Đúng vậy, nhưng đây chỉ mới là chủ trương. Và tại Thông báo số 63 (ngày 28/02/2012) của Văn phòng Chính phủ về vấn đề này cũng ghi rõ: “Trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự, sửa đổi toàn diện Luật Đất Đai, Luật Nhả ở và các văn bản pháp luật có liên quan (…) đề xuất bỏ quy định yêu cầu bắt buộc công chứng hoặc chứng thực các loại hợp đồng về nhà ở và quyền sử dụng đất …”. Ví dụ, hiện tại Bộ Luật Dân sự vẫn chưa có thay đổi về quy định hợp đồng thuê nhà từ 06 tháng phải được công chứng. Nghĩa là trong tương lai, việc bãi bỏ công chứng các loại hợp đồng nói trên sẽ được thực hiện sau khi chủ trương nói trên đã được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật cụ thể.
Được biết, hiện nay Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định đã có văn bản (Thông báo số 162 ngày 29/01/2013) triển khai thực hiện Nghị định 04 về việc “chấm dứt nhiệm vụ xác nhận các giao dịch về bất động sản” và “đề nghị các doanh nghiệp liên hệ các tổ chức hành nghề công chứng để chứng nhận các hợp đồng giao dịch liên quan đến bất động sản”.
Về vấn đề niêm yết văn bản công chứng về thừa kế:
      Về thủ tục Niêm yết trong trường hợp phân chia, khai nhận di sản thừa kế trước đây được Chính phủ quy định tại Điều 52, 53 của Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 “Về công chứng, chứng thực” (trước khi có Luật công chứng) như sau:
      “Người thực hiện công chứng, chứng thực phải kiểm tra để khẳng định người để lại di sản đúng là người có quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với di sản đó và những người yêu cầu công chứng, chứng thực đúng là người được hưởng di sản; nếu thấy chưa rõ hoặc nghi ngờ thì phải tự mình xác minh hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức khác xác minh”. Và Người thực hiện công chứng, chứng thực phải niêm yết (văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản đó) tại nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn hoặc nơi có bất động sản của người để lại di sản trong thời hạn 30 ngày.
      NĐ 04 quy định về vấn đề này tại Điều 19: “Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế phải được niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày. Việc niêm yết do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện tại trụ sở của Ủy ban nhân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản”
      Theo tôi, đây là một thủ tục quan trọng khi công chứng văn bản khai nhận/văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhằm: xác định đúng di sản là tài sản thuộc sở hữu/sử dụng của người để lại di sản, xác định người thừa kế; đồng thời công khai thông báo là để hạn chế những tranh chấp xảy ra sau khi di sản đã được dịch chuyển (thay đổi chủ thể có quyền). Được biết tại tỉnh ta, từ khi Luật công chứng có hiệu lực (2007) đến nay, việc niêm yết như quy định tại Nghị định 75 không còn được các công chứng viên thực hiện nữa.
      Như vậy với quy định này, các tổ chức hành nghề công chứng (thay vì công chứng viên như quy định trước đây) phải có trách nhiệm thực hiện việc niêm yết. Đồng thời, “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày niêm yết”
(Thêm:
Về phương diện phát triển các tổ chức hành nghề công chứng, trong tương lai chủ yếu là phát triển các Văn phòng công chứng. Hiện tại, bên cạnh việc xây dựng “bản đồ” quy hoạch các tổ chức hành nghề công chứng thì Chính phủ giao Bộ Tư pháp có nhiệm vụ phối hợp cùng các Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách cổ phần hóa các Phòng công chứng (Theo Quyết định số 2104/QĐ – TTg Phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020")
Hiện nay, theo tiêu chí quy hoạch tại Quyết định số 240/QĐ-TTG (ngày 17/2/2011) của Thủ tướng Chính phủ thì mỗi địa bàn cấp huyện có ít nhất 01 và tối đa là 05 tổ chức hành nghề công chứng. Và trong Quyết định số 2104/QĐ – TTg (29/12/2012) của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020" thì đến năm 2020 cả nước có 1602 tổ chức hành nghề công chứng (trong đó đến năm 2015 là: 974 đến 2010 là 628). Riêng tại Bình Định, con số quy hoạch cho đến năm 2020 là 24 tổ chức hành nghề công chứng (trong đó, từ nay đến 2015 sẽ tăng thêm 07 tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn các huyện; hiện nay cả tỉnh chỉ mới có 03 Phòng công chứng và 05 Văn phòng công chứng))./.
♦ Trần Minh Thiện (VPCC A VÀ B)
 

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN