Chủ nhật, 26/10/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 10/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý Dự thảo, ngày 29/9/2014
( 27.08.14 )
Thông báo về việc chiêu sinh Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Thừa phát lại
( 06.06.14 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định Thông báo tuyển sinh đào tạo Đại học Luật hình thức vừa làm vừa học mở tại Bình Định
( 08.08.14 )
Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thời khóa biểu năm học 2014 - 2015 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay309
mod_vvisit_counterTất cả371950
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật
Thứ hai, 25 Tháng 2 2013 11:02
In
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản của nhà nước ở tầm vĩ mô hay vi mô, thể hiện thông qua việc lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước. Xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo. Đó là quá trình nhận thức của các quan hệ xã hội, quy luật vận động của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quy luật lợi ích, xác định tầm quan trọng pháp lý các quan hệ xã hội, từ đó thể chế hóa các quan hệ xã hội thành các quy phạm pháp luật cụ thể. Thông qua kỹ thuật lập pháp, lập quy nhà nước thể chế hóa các ý chí của nhân dân thành các chuẩn mực mang tính bắt buộc chung. Các chuẩn mực đó được thể hiện thông qua các văn bản luật hoặc các quy định dưới luật. Do đó hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo pháp luật, sáng tạo ra giá trị tinh thần.
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó nên hoạt động xây dựng pháp luật phải tuân thủ theo những nguyên tắc mang tính đặc thù, quan trọng nhất. Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là: “1. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật; 2. Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; 3. Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật; 4. Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật; 5. Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Qua nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn thì ta có thể nhận thấy các nguyên tắc này được thể hiện qua các nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất: Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Nguyên tắc này xuất phát từ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Trong hệ thống chính trị thì Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vì vậy đường lối chính sách của Đảng luôn giữ vai trò chỉ đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng pháp luật của Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết, là bảo đảm cao nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của Nhà nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều có sự lãnh đạo của Đảng trong đó có hoạt động xây dựng pháp luật đó là yêu cầu có tính khách quan và trở thành nhân tố quyết định hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc tối cao đối với hoạt động của hệ thống chính trị, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế và quốc phòng. Đảng phải xác định những phương hướng chủ yếu, kế hoạch và nội dung chính của hoạt động xây dựng pháp luật bảo đảm tính đảng và tính khoa học đối với hoạt động này. Những nghị quyết, văn kiện của Đảng là cơ sở vững chắc cho hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước.
Thông qua Nhà nước, Đảng lãnh đạo việc quản lý xã hội bằng pháp luật cũng như kiểm tra giám sát nắm tình hình và đánh giá các hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước. Nhưng Đảng chỉ lãnh đạo Nhà nước chứ không bao biện làm thay chức năng của Nhà nước và văn kiện của Đảng tất nhiên không phải là pháp luật. Bởi vậy, Nhà nước phải cụ thể hoá nó bằng những qui phạm pháp luật và tổ chức thực hiện.
Thứ hai: Nguyên tắc khách quan
Xây dựng pháp luật phải thể hiện được các nhu cầu và điều kiện khách quan của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Để pháp luật có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu quản lý của nhà nước trên mọi lĩnh vực thì nguyên tắc cơ bản được đặt ra là trong quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng, chính xác các quá trình xã hội đang diễn ra và phát hiện được xu hướng vận động phát triển của chúng. Vì vậy cần phải thu hút sự tham gia đông đảo các nhà khoa học thuộc mọi lĩnh vực, đặc biệt là các chuyên gia pháp lý, sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ ba: Nguyên tắc dân chủ hóa.
Nguyên tắc này thể hiện mức độ, trình độ tham gia của nhân dân lao động và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội vào họat động xây dựng pháp luật với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội. Cần phải đề cao vai trò của các tầng lớp nhân dân lao động và các tổ chức của họ trong hoạt động xây dựng pháp luật, đặc biệt là trong việc tham gia, thảo luận, góp ý các văn bản quy phạm pháp luật. Có như thế mới tập trung được tâm huyết, trí tuệ sáng tạo của xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật.
Thứ tư: Nguyên tắc bảo đảm pháp chế
Nguyên tắc này phải đảm bảo được yêu cầu là việc xây dựng và ban hành phải đúng thẩm quyền, phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Nghĩa là văn bản luật phải phù hợp với Hiến pháp - Đạo luật cơ bản của Nhà nước, văn bản dưới luật phải phù hợp với văn bản luật, văn bản địa phương phải thống nhất, phù hợp với văn bản Trung ương. Hay nói một cách khác phải đảm bảo tính thứ bậc, trật tự của hệ thống văn bản và văn bản cấp độ thấp hơn được ban hành nhằm thực hiện văn bản ở cấp độ cao hơn.
Thứ năm: Nguyên tắc phải đảm bảo tính khả thi
Để có được một văn bản pháp luật có chất lượng tốt thì yêu cầu hết sức quan trọng là các quy định của văn bản đó khi xây dựng và ban hành phải đảm bảo được tính khả thi, phù hợp với thực tiễn quản lý và đáp ứng được nhu cầu quản lý xã hội mà văn bản đó cần hướng đến. Muốn đảm bảo tốt nguyên tắc này thì trách nhiệm đặt ra không chỉ đối với người soạn thảo mà cả cơ quan thẩm định, thẩm tra, cơ quan xem xét, thông qua văn bản.
Văn bản có tính khả thi cao là khi các quy định của văn bản đó không chỉ có tính cưỡng chế đối với đối tượng chịu sự tác động mà vấn đề cũng mang tính chất quan trọng là đối tượng đó cũng phải nhận thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, "hợp lòng dân" và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người. Nghĩa là đa số đối tượng chịu sự tác này của quy định này đều thấy hợp lý, không phải nhằm mục đích là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định. Muốn vậy thì trong quá trình xây dựng cần phải tham khảo, lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của những quy định đó.
Một vấn đề cũng cần lưu ý là trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan cũng cần đánh giá được tác động kinh tế xã hội sau khi các quy định đó được áp dụng trong thực tiễn thông qua công tác dự báo tác động kinh tế xã hội. vấn đề cụ thể là phải tính toán được những tác động tích cực, tiêu cực, các chi phí và lợi ích kinh tế - xã hội từ các quy định của văn bản pháp luật được ban hành. Để có được những báo cáo đánh giá tác động hiệu quả, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan trong suốt quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
Hiện nay, cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như hội nhập quốc tế, chúng ta đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, trọng tâm là tiếp tục cải cách nền hành chính nhà nước. Thực tiễn đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật cả về nội dung và hình thức cũng như tăng cường sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, tổ chức bộ máy nhà nước, các quyền công dân. Công tác xây dựng pháp luật đang được đẩy mạnh nên cần phải tuân thủ các nguyên tắc của quá trình xây dựng pháp luật. Có như thề hệ thống pháp luật mới trở thành công cụ hữu hiệu trong việc quản lý xã hội./.
♦ Lê Kim Chinh
 

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN