Thứ bảy, 26/07/2014

THÔNG BÁO - NIÊM YẾT

Danh sách cấp phiếu LLTP tháng 7/2014
( 03.03.14 )

TIN TỨC HOẠT ĐỘNG

Tài liệu góp ý VBQPPL ngày 18/6/2014
( 06.06.14 )

LỚP ĐẠI HỌC LUẬT

Thông báo tập trung học kỳ II năm học 2013 - 2014 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V Thông báo tập trung học kỳ II năm học 2013 - 2014 lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khoá V
( 17.08.12 )

Liên kết website

LƯỢT TRUY CẬP

mod_vvisit_counterHôm nay320
mod_vvisit_counterTất cả318774
Phân biệt thẩm quyền của UBND và TAND trong việc giải quyết tranh chấp đất đai
Thứ hai, 11 Tháng 10 2010 07:40
Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai là lĩnh vực hết sức phức tạp thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau: Cơ quan hành chính Nhà nước, Tòa án nhân dân. Đối tượng khởi kiện vụ án đa dạng; người bị kiện cũng có sự khác nhau; thời hiệu khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai có sự khác biệt so với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Trình tự, thủ tục khởi kiện vụ án dân sự, khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của Luật Đất đai cũng có khác so với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Vì vậy, trong thực tiễn khi giải quyết các tranh chấp về đất đai, nhiều trường hợp cơ quan hành chính và cơ quan tố tụng có sự nhầm lẫn về thẩm quyền giải quyết nên đã thụ lý và giải quyết nhiều vụ việc không đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai thì thẩm quyền giải quyết giữa cơ quan hành chính và cơ quan TAND được xác định như sau:
1.Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của TAND theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự được quy định Khoản 1, Điều 136 là:
1.1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ sau (được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003):
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
g- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
h- Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
1.2. Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.
Về nội dung của quy định: "tài sản gắn liền với đất" có nhiều cách hiểu và nhận thức khác nhau. Vì vậy, muốn áp dụng đúng các quy định của pháp luật thì phải hiểu chính xác và thống nhất. Chúng ta đều biết, trên đất có thể có các tài sản khác nhau, có thửa đất trên đó có các công trình kiến trúc, hoặc cây lâu niên, nhưng cũng có thửa đất trên đất chỉ có các cây nông nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, sắn….Đây cũng là một loại tài sản gắn liền với đất. Vậy nếu các bên tranh chấp các cây nông nghiệp ngắn ngày đó thì Toà án có giải quyết luôn cả quyền sử dụng đất hay không? Trước đây, theo hướng dẫn của TAND tối cao thì chỉ những tranh chấp tài sản gắn liền với đất, mà những tài sản đó có tính bền vững lâu dài, giá trị sử dụng, giá trị kinh tế gắn liền với đất thì khi có tranh chấp các loại tài sản đó, Toà án mới giải quyết luôn cả quyền sử dụng đất; còn các trường hợp tranh chấp các cây nông nghiệp ngắn ngày, Toà án chỉ giải quyết về tài sản thuộc sở hữu của ai, xác định họ có quyền thu hoạch, còn đất các bên không có tranh chấp thì Toà án không giải quyết.
Do vậy, các trường hợp "Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất" thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án được hiểu là: các tranh chấp về tài sản là nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu niên (như nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích kinh doanh, sản xuất như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên hiện nay theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì các "Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất" nếu trên đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các Khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 (những loại giấy tờ đã nêu trên) thì các ý kiến đều thống nhất thuộc thẩm quyền của Toà Dân sự. Nhưng nếu "Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất", song người sử dụng đất đó không có bất cứ một thứ giấy tờ gì như quy định tại Khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau đối với vấn đề này.
- Quan điểm thứ nhất cho rằng căn cứ theo quy định tại Khoản 2, Điều 136 của Luật Đất đai thì Toà án không có thẩm quyền giải quyết.
- Quan điểm thứ hai cho rằng Toà án phải giải quyết, song chỉ giải quyết về tài sản đang tranh chấp, xác định tài sản đó thuộc quyền sở hữu của ai thì giao cho người đó, còn về đất thì Toà án không giải quyết mà để cho UBND cấp có thẩm quyền giải quyết.
- Quan điểm thứ ba: Toà án giải quyết tranh chấp về tài sản, còn đất thì Toàn án chỉ tạm giao cho đương sự quản lý, sử dụng, dành quyền quyết định về đất cho UBND cấp có thẩm quyền với lý lẽ là chỉ có UBND là cơ quan quản lý về đất đai mới có quyền giao đất đó cho ai.
Trong 3 quan điểm nêu trên, phần lớn ý kiến đều cho rằng, quan điểm thứ ba là hợp lý nhất, phù hợp theo quy định của Luật Đất đai, nhưng khi áp dụng thực tế nếu giải quyết theo hướng này thì sẽ gây phiền hà cho dân. Bởi vì người dân phải vừa khởi kiện ra Toà án để giải quyết tranh chấp về tài sản, lại vừa khiếu nại đến UBND cấp có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp đất đai. Hơn nữa cũng có thể xảy ra trường hợp khi Toà án đã xác định tài sản tranh chấp thuộc quyền sở hữu của A, nhưng khi UBND cấp có thẩm quyền lại giải quyết đất đó thuộc quyền sử dụng của B thì vấn đề sẽ trở nên phức tạp. Do khi xét xử, Toà án chưa xác định bên có tài sản có được sử dụng đất hay không nên chưa thể tuyên có tháo dỡ tài sản có trên đất hay không, và các bên có phải bồi thường cho nhau hay không? Trong trường hợp này thì cũng có một phương án lựa chọn khác để giải quyết là nên giao cho UBND cấp có thẩm quyền giải quyết trước về đất, trên cơ sở UBND giao đất đó cho ai rồi Toà án mới giải quyết tranh chấp tài sản trên đất đó. Nhưng phương án này sẽ kéo dài vụ kiện. Đồng thời có thể làm mất đi tính độc lập trong việc xét xử, giải quyết các vụ án theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.Vì vậy, để thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp loại này, TAND tối cao hướng dẫn có thể áp dụng tương tự như nội dung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao và Tổng cục Địa chính như sau:
- Trong trường hợp đương sự đã có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp (song chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì Toà án giải quyết cả tranh chấp về tài sản và cả tranh chấp về quyền sử dụng đất.
- Trong trường hợp đương sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng vẫn có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét và để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết tranh chấp về tài sản, đồng thời xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Trong trường hợp UBND cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, tài sản không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về tài sản trên đất.
2. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của UBND các cấp.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 160 Nghị định 184/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 Về thi hành Luật Đất đai năm 2003 thì đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) mà đương sự không có có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các Khoản 1, 2, 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 (những loại giấy tờ đã nêu trên) thì sau khi đã được hoà giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp mà một bên hoặc các bên không nhất trí thì được giải quyết như sau:
- Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng. 
- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng. 
LÊ KIM CHINH
 

HÌNH ẢNH SỰ KIỆN