TRANG CHỦ    
Bộ Tư pháp
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
Văn bản chỉ đạo điều hành của tỉnh
Công báo tỉnh Bình Định
Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định
Trung tâm DVBĐGTS
Văn phòng Thừa phát lại Bình Định
Cơ sở dử liệu TTHC
Luật Việt Nam
Văn phòng điện tử
Thư điện tử công vụ
Phần mềm chỉ đạo điều hành
 
HỎI ĐÁP
Vui lòng đặt câu hỏi tại đây

     11-05-2017   Hỏi đáp - Pháp luật
 Người gửi: Mai Hữu Hòa
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Chồng tôi chết, trước khi chết ông lập di chúc (được cơ quan thẩm quyền chứng nhận) để lại di sản cho các con riêng của ông. Nay ông đã chết, tôi có được hưởng di sản này của ông không?

Trả lời:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Như vậy, mặc dù bà không được chồng lập di chúc cho hưởng di sản, nhưng bà là vợ, bà thuộc đối tượng là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nên bà cũng được hưởng phần di sản của ông để lại như quy định trên. /.

     10-05-2017   Cải chính khai sinh do mượn khai sinh của người khác đi học
 Người gửi: Nguyễn Thị Thanh Dung
 Email: thanhdung.np@gmail.com
 Địa chỉ: Tổ 1, Khu phố 1, Phường Nhơn Phú, TP Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định
 Điện thoại: 0983 396 965
  Câu hỏi:

Tôi hiện tên thật là Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Sinh ngày 11/4/1988 tại KV1, Phường Nhơn Phú, TP QUy Nhơn. Năm 1993, do không đủ tuổi nhập học vào lớp 1 nên mẹ tôi đã mượn giấy khai sinh của chị con dì ruột của tôi là Nguyên THị Thanh Dung - Sinh ngày 30/7/1986 ở KV9, Phường Nhơn Bình, TP Quy Nhơn cho tôi đi học từ lớp 1 đến Đại học. Do đó, tất cả các bằng cấp của tôi đều mang tên Nguyễn Thị Thanh Dung (hiện tôi đang đi làm tại cơ quan Nhà nước cũng mang tên Dung). DO đó tôi không thể xem xét lý lịch để kết nạp Đảng cũng như một số chế độ khác. Theo tôi được biết tại Tỉnh An Giang có Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 04/3/2010 về việc cải chính tên tuổi do mượn tên đi học. CÒn ở tỉnh ta có không ạ? Vậy xin cho tôi hỏi có hướng nào giải quyết việc thay đổi tên tuổi hay cải chính giấy tờ do tôi do mượn khai sinh người khác đi học được không??? Rất mong sự tư vấn trả lời của Sở Tư pháp Bình ĐỊnh. Trân trọng cảm ơn!!!

Trả lời:

1. Phạm vi cải chính hộ tịch

Thông tin hộ tịch đã được đăng ký được xác định có sai sót, thuộc diện cải chính hộ tịch bao gồm thông tin trên giấy tờ hộ tịch và thông tin trong sổ đăng ký hộ tịch.

Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.

Căn cứ các quy định trên, trường hợp của bà do không đủ tuổi nhập học vào lớp 1 nên đã mượn giấy khai sinh của chị con dì ruột để đi học, nên không có cơ sở để thực hiện việc cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.

3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tồ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh.

 

<p style="\\"text-align:" justify;\\"=""> Trường hợp của bà, bà liên hệ với cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ cá nhân của bà để thực hiện điều chỉnh theo quy định của pháp luật./.

     04-05-2017   Hỏi đáp - Pháp luật
 Người gửi: Nguyễn Thành Luân
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Hiện nay, có bắt buộc phải đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép lái xe mới bằng vật liệu PET hay không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 57 Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ thì “Giấy phép lái xe bằng giấy bìa phải được chuyển đổi sang giấy phép lái xe mới bng vật liệu PET theo lộ trình”. Theo quy định này thì bắt buộc phải đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép phép lái xe mới bằng vật liệu PET.

Tuy nhiên, Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT này hết hiệu lực kể từ ngày 01/6/2017 và được thay thế bằng Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 37 Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT này thì “Việc đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép lái xe bằng vật liệu PET được khuyến khích thực hiện trước ngày 31/12/2020”.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 37 Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT nêu trên thì: kể từ ngày 01/6/2017 thì không còn bắt buộc phải đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép lái xe mới bằng vật liệu PET. Nhà nước khuyến khích người dân đổi giấy phép lái xe bằng giấy bìa sang giấy phép lái xe bằng vật liệu PET trước ngày 31/12/2020./.

     02-05-2017   KẾT HÔN
 Người gửi: Bùi thị thanh hướng
 Email: Thanhhuong510@gmail.com
 Địa chỉ: 90/17 trần hưng đạo, qui nhơn, bình định
 Điện thoại: 01656153586
  Câu hỏi:

Dạ cho hỏi em lấy chồng quốc tịch hàn quốc, em có hộ khẩu tại thành phố qui nhơn bình bịnh, và KT3 tại thành phố Hồ Chí Minh, vậy cho em hỏi em nen làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và đăng kí kết hôn tại sơ tư pháp tp Qui Nhơn hay Tp HCM a? Và qui trình làm như thế nào? STP tư vấn giúp em với ạ. Em cảm ơn ạ.

Trả lời:

1. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

a) Giấy tờ phải nộp: 

- Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh;

b) Giấy tờ phải xuất trình:

- Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

2. Thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.

a) Giấy tờ phải nộp:

- Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó. Nếu giấy tờ chứng minh trình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này chỉ có giá trị 6 tháng, kể từ ngày cấp.

- Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (thời hạn có giá trị là 6 tháng kể từ ngày cấp);

Ngoài các giấy tờ nêu trên, tùy từng trường hợp, bên nam, bên nữ phải nộp các giấy tờ tương ứng sau đây:

- Bản sao trích lục hộ tịch về việc ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn hoặc hủy việc kết hôn nếu phía công dân Việt Nam đã ly hôn hoặc hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

b) Giấy tờ phải xuất trình:

- Giấy tờ chứng minh nơi cư trú của công dân Việt Nam để xác định thẩm quyền.

- Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức làm công tác hộ tịch thuộc Phòng Tư pháp kiểm tra, thẩm định hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết. Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn thì báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn (CNKH).

- Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy CNKH thì phải có văn bản đề nghị hoãn việc nhận Giấy CNKH, nhưng không quá  60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện ký Giấy CNKH. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy CNKH thì báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện hủy bỏ Giấy CNKH đã ký.

d) Thời hạn giải quyết: 15 ngày.

Về đăng ký kết hôn, nộp hồ sơ tại UBND thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hoặc UBND quận, huyện nơi tạm trú để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền./.

     25-04-2017  
 Người gửi: Nguyễn Thành Luân
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Khi bắt được gia súc bị thất lạc, tôi có được xem là chủ sở hữu đối với gia súc này không?

Trả lời:

Điều 231 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.

2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc”.

Như vậy, khi bắt được gia súc bị thất lạc, người bắt được gia súc phải thực hiện việc nuôi giữ vào báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Khoản 1, Điều 231 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu trên. Tùy từng trường hợp cụ thể, việc xác định quyền sở hữu và các quyền lợi, nghĩa vụ khác của người bắt được gia súc bị thất lạc được thực hiện theo Khoản 1 và Khoản 2, Điều 231 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu trên./.

     25-04-2017  
 Người gửi: Trần Thị Hồng Phượng
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Cha, mẹ chúng tôi qua đời để lại một mảnh đất nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận, chỉ có một số giấy tờ xác nhận của phường. Nay anh, em chúng tôi thống nhất tặng cho mảnh đất trên cho người em út thì cần phải làm những thủ tục gì? Ở đâu?

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn theo Luật đất đai 2013 quy định như sau:

- Căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật đất đai 2013:

“… Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 168 Luật đất đai 2013:

“… Trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điểu kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ”.

Theo những quy định trên thì trường hợp của bạn phải thỏa mãn những điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận và các điều kiện khác như: đất không tranh chấp, khiếu nại, phù hợp với quy hoạch đồng thời phải có các giấy tờ xác nhận của phường về đất đang sử dụng như:

+ Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Hồ sơ kỹ thuật thửa đất

+ Biên bản họp Hội đồng đăng ký quyền sử dụng đất xét đơn xin cấp giấy chứng nhận …

Khi mảnh đất của bạn đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận thì bạn được quyền làm thủ tục thừa kế di sản, theo quy định nêu trên.

Đối với thủ tục thừa kế:

- Căn cứ khoản 1 Điều 57 Luật Công chứng 2014:

“… Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác”   

Do vậy, bạn có thể yêu cầu Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản để thực hiện việc phân chia di sản mảnh đất trên. Lúc đó những người thừa kế khác có quyền tặng cho phần của mình cho người em út.

Sau khi hoàn thành thủ tục phân chia di sản, người được hưởng di sản liên hệ với UBND cấp huyện nơi có bất động sản để được cấp giấy chứng nhận theo quy định./.

     14-04-2017  
 Người gửi: Mai Hữu Hòa
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Ai là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật dân sự 2015 thì người chưa thành niên được giám hộ đương nhiên gồm:

 a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

 b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Toà án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.

Những người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo thứ tự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật dân sự 2015 như sau:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ./.

     11-04-2017  
 Người gửi: Phạm Văn Bình
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là những khoản thu nhập nào? sau khi kết hôn, chồng tôi mua vé số kiến thiết và đã trúng thưởng. Vậy tiền trúng thưởng xổ số thuộc tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của vợ, chồng?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Mặt khác tại Điều 9 Nghị định 126/2014/ NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước; thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo các quy định trên thì tiền trúng thưởng xổ số trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng./.

     11-04-2017  
 Người gửi: Phạm Văn Bình
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Sau khi kết hôn, Chi H được cha mẹ tặng cho riêng một chiếc xe mô tô, không có thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng. Nay, chị H muốn tặng cho chiếc xe mô tô cho người em của chị thì có cần phải thỏa thuận với chồng chị không?

Trả lời:

Theo  Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:  Tài sản riêng của vợ, chồng gồm: Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và gia đình; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng; tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng, theo quy định tại khoản 1 Điều 206 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất , kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.

Mặt khác đối với tài sản riêng của vợ, chồng, theo Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Như vậy, theo các quy định trên, chiếc xe mô tô của chị H được cha mẹ cho riêng chị H là tài sản riêng nên chị H có quyền cho em của mình, không cần có sự thỏa thuận với chồng của chị H./.

     29-03-2017   Đất đai bị người khác xâm chiếm
 Người gửi: Đặng Hữu Thọ
 Email: danghuutho92@gmail.com
 Địa chỉ: Mỹ Lợi, Phù Mỹ, Bình Định
 Điện thoại: 0978667450
  Câu hỏi:

“Cha tôi và mẹ tôi có tạo lập mảnh đất với diện tích 593m¬¬¬¬2 và trồng cây lâu năm như dừa… cũng hơn 26 năm. Mảnh đất ấy chưa có bìa đỏ, chỉ có tên cha tôi đứng trong sổ mục kê. Cha tôi mất năm 2001, mẹ tôi còn sống. Năm 2013 bị người ta lấn chiếm đất xây dựng trái phép bản thân mẹ tôi không biết chữ nên báo với chính quyền địa phương nhưng chính quyền phớt lờ. Đến 2015 tôi làm đơn gửi đến UBND xã và huyện. Thì được UBND huyện thụ lý. Và phòng tài nguyên ra xác thực và kết quả là bên kia chiếm 50.71m2 (trong đó có 8m2bị xây dựng nhà bếp nên UBND huyện bảo tôi không thuộc phạm vi giải quyết mà thuộc của Tòa án). Tôi cũng làm đơn gửi đến Tòa án trực tiếp nhưng Tòa án Phù Mỹ không nhận đơn. Bảo tôi không có quyền khởi kiện mà mẹ tôi mới đứng ra khởi kiện (Nhưng khi tôi nộp đơn có Giấy ủy quyền do mẹ tôi ủy quyền cho tôi). Nhưng khi mẹ là người đứng tên trong đơn đến nộp thì tòa án không nhận. Và tôi không có cách nào hơn nên gửi qua bưu điện. Vậy xin Sở Tư pháp trả lời cho tôi mấy vấn đề sau: - Mẹ tôi ủy quyền cho tôi đứng ra khởi kiện được không (có Giấy ủy quyền mẹ tôi và tôi mọi quyền liên quan đến đất đai làm tại UBND xã). - Đây là tranh chấp đất đai bị người khác xâm lấn sang đất của tôi. Và bảo mẹ tôi ghi tên những đứa con có quyền lợi, lợi ích ra, Mẹ tôi không ghi được không?”.

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Điều 18. Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai

1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980”.

2. Đối chiếu với trường hợp cụ thể của Ông

Trường hợp của Ông, trong thư yêu cầu Ông có nêu mẹ Ông và Ông có gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ nhưng không được Tòa án nhận đơn. Tuy nhiên, trong thư yêu cầu ông không nêu rõ lý do vì sao Tòa án không nhận đơn hoặc trả lại đơn (như chưa qua thủ tục hòa giải ở cấp xã, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án…thuộc các trường hợp không thụ lý vụ án hoặc trả lại đơn theo quy định tại Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) nên Sở Tư pháp không trả lời cụ thể về vấn đề này mà chỉ trả lời theo nguyên tắc chung về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai và điều kiện thụ lý đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện như sau:

- Về điều kiện thụ lý đơn và trả lại đơn khởi kiện: Theo quy định tại Điều 191 và Điều 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định điều kiện thụ lý đơn và trả lại đơn khởi kiện như sau:

“1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

  2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)”.

          “1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

          b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

          c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

          đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

          Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

          g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện………………………..”.

3. Về vấn đề xác định người tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi khởi kiện vụ án

Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Căn cứ các quy định nêu trên, theo như nội dung Ông hỏi nhưng Ông không nêu rõ Ông hay mẹ Ông là người đang trực tiếp sử dụng thửa đất nên Sở Tư pháp chỉ trả lời mang tính nguyên tắc chung nhất để Ông tham khảo, nghiên cứu thực hiện như sau:

Nếu chỉ có mẹ Ông là người đang trực tiếp sử dụng đất thì mẹ Ông là người có quyền khởi kiện. Khi đó, Ông sẽ được quyền đứng ra khởi kiện thay cho mẹ Ông khi Ông có Giấy ủy quyền của mẹ Ông.

- Khi khởi kiện, nguyên đơn có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nếu Tòa án yêu cầu Ông cung cấp thông tin về anh, chị em của Ông và những người thừa kế khác của bố Ông (nếu có) thì Ông cần cung cấp thông tin cho Tòa để hoàn thiện nội dung đơn khởi kiện theo Khoản 4, Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc cung cấp thông tin này là cần thiết để Tòa án xem xét tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án để giải quyết một cách khách quan, công bằng, đúng quy định của pháp luật.

 

<p style="\\"text-align:" justify;\\"=""> Trên đây là nội dung trả lời của Giám đốc Sở Tư pháp đối với nội dung thắc mắc của ông Đặng Hữu Thọ. Đề nghị ông Đặng Hữu Thọ tham khảo, nghiên cứu và vận dụng cho phù hợp.

     28-03-2017   Lĩnh vực hôn nhân và gia đình
 Người gửi: Phạm Văn Bình
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Vợ, chồng có được chia tài sản chung để phục vụ yêu cầu kinh doanh riêng không? khi chia tài sản chung có phải thực hiện công chứng hay không?

Trả lời:

Tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và  gia đình, gồm: Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ ( nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan); nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể chia tài sản chung để phục vụ kinh doanh riêng, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân gia đình. Và tùy từng trường hợp, Văn bản thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng bắt buộc phải thực hiện công chứng hoặc thực hiện công chứng theo yêu cầu của vợ chồng./.

     27-03-2017   Lĩnh vực hôn nhân và gia đình
 Người gửi: Phạm Văn Bình
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng phải không?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Như vậy theo quy định trên, việc xác định quyền sử dụng mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung hoặc tài sản riêng phải căn cứ từ nguồn gốc hình thành; nếu quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được qua thông giao dịch bằng tài sản riêng thì quyền sử dụng đất đó là tài sản riêng, còn lại thì đó là tài sản chung của vợ chồng./.

     21-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Hổ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn gồm những giấy tờ nào? Thời hạn thực hiện công chứng là bao nhiêu ngày?

Trả lời:

-  Phiếu yêu cầu công chứng;

- Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;

- Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.

Đồng thời người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính để công chứng viên đối chiếu khi thực hiện công chứng hợp đồng, giao dich.

Thời hạn công chứng được xác định kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng đến ngày trả kết quả công chứng. Thời gian xác minh, giám định nội dung liên quan đến hợp đồng, giao dịch, niêm yết việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, dịch giấy tờ, văn bản không tính vào thời hạn công chứng. Thời hạn công chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc./.

     21-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chỉ có thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản tại địa bàn huyện, thành phố thuộc tỉnh nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở phải không ?

Trả lời:

Như vậy, cá nhân, tổ chức có bất động sản ở tại địa bàn tỉnh Bình Định, khi có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản được quyền lựa chọn bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng ( Phòng Công chứng, Văn phòng công chứng) mà có trụ sở đặt tại địa bàn tỉnh Bình Định để yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản./.

     21-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Những cá nhân nào được miễn đào tạo nghề công chứng?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Công chứng năm 2014 quy định:Có 04 nhóm đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, gồm: Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; Luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; Người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.

Đồng thời tại khoản 2 Điều 10 Luật Công chứng năm 2014 cũng quy định những cá nhân thuộc đối tượng miễn đào tạo nghề công chứng phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và quy tắc đạo đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công chứng là 03 tháng./.

     17-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Ông Nguyễn Văn A thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Phòng Công chứng X. Sau đó, ông A tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì hợp đồng thế chấp tiếp theo phải được công chứng tại Tổ chức hành nghề công chứng nào?

Trả lời:

Theo khoàn 2 Điều 54 Luật Công chứng năm 2014 về công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản quy định:“Trường hợp một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo đó”.

Theo quy định trên, ông A công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo tại Phòng Công chứng X. Trường hợp Phòng Công chứng X chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo đó.

     17-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Cơ quan nào có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng ?

Trả lời:

Theo khoản 2 Điều 51 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch”.

     17-02-2017   Lĩnh vực công chứng
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Chị H thế chấp căn nhà của mình để vay tiền tại Ngân hàng Công thương. Khi công chứng hợp đồng thế chấp, Giám đốc ngân hàng có phải cùng chị H đến cơ quan công chứng để ký trước mặt Công chứng viên không ?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 48 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên.Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào hợp đồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng”.

Như vậy, tùy theo từng trường hợp, nếu Giám đốc ngân hàng đã đăng ký chữ ký mẫu thì có thể ký trước vào hợp đồng, nếu không đăng ký chữ ký mẫu thì bắt buộc phải ký trước mặt công chứng viên.

     29-12-2016   Thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân
 Người gửi: Nguyễn Quỳnh Trang
 Email: cnquynhtrang@gmail.com
 Địa chỉ: P. Đống Đa, TP. Quy Nhơn, Bình Định
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Tôi muốn làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn. Tôi đã đến phường liên hệ nhưng một trong những điều kiện của hồ sơ là phải có sổ hộ khẩu bản gốc. Nhưng gia đình tôi không cho phép tôi và anh B kết hôn nên không đưa sổ hộ khẩu. Vậy để xác nhận tình trạng hôn nhân có còn cách nào khác không cần sử dụng sổ hộ khẩu không ạ?

Trả lời:

Sau khi nghiên cứu Câu hỏi của bà Nguyễn Quỳnh Trang và đối chiếu với các quy định của pháp luật về hộ tịch, Sở Tư pháp trả lời như sau:

- Về thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: "Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân".

- Về thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

* Giấy tờ phải nộp:

Tại khoản 1, 2 Điều 22 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định:

"Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì nộp bản sao trích lục hộ tịch về việc ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài".

* Giấy tờ phải xuất trình:

Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định:

"Người yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú".

Như vậy trường hợp của bà, UBND phường yêu cầu xuất trình sổ hộ khẩu bản gốc (hoặc bản sao có chứng thực) là đúng quy định./.

     26-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Anh A sinh năm 1960, thường trú tại tỉnh G. Hiên nay, anh A đã cắt hộ khẩu thường trú tại tỉnh G và đăng ký tạm trú tại tỉnh K ( nơi anh đang công tác). Anh A có nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để nộp cho cơ quan. Vậy, Cơ quan nào có thẩm quyền giài quyết?

Trả lời:

Tại khoản 2 Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp quy định: Sở Tư pháp thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

- Công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở trong nước;

- Công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài;

- Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

Đồng thời tại điểm a khoản 2 Điều 45 Luật Lý lịch tư pháp quy định: Công dân Việt Nam nộp tại Sở Tư pháp nơi thường trú; trường hợp không có nơi thường trú thì nộp tại Sở Tư pháp nơi tạm trú.

Đối chiếu với các quy định trên, Sở Tư pháp tỉnh K, nơi anh A đang tạm trú có thẩm quyển giải quyết việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho anh A./.

     26-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Giá trị sử dụng của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào?

Trả lời:

-  Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.

 

<p style="\\"text-align:" justify;\\"=""> Như vậy theo pháp luật Việt Nam, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có giá trị sử dụng trong 06 tháng kể từ ngày cấp; dùng để kết hôn hoặc sử dụng vào mục đích khác và chỉ được sử dụng đúng mục đích đã được ghi trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân./.

     20-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi: Phan Văn Minh
 Email: mind1769@gmail..com
 Địa chỉ: 55/14/29 ngô mây
 Điện thoại: 0938851769
  Câu hỏi:

Tôi xin hỏi.tôi xin chấm dứt hợp đồng lao động với công ty vì lý do cá nhân.đến giờ được 3 tháng và công ty vẫn còn nợ lương của tôi. Vậy tôi phải làm gì để được nhận tiền lương của tôi? tôi xin cám ơn.

Trả lời:

Trước hết, Giám đốc Sở Tư pháp trân trọng cảm ơn ông Phan Văn Minh đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Chuyên mục “Công dân hỏi, Giám đốc Sở trả lời” của Sở Tư pháp. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về lao động, tiền lương, Giám đốc Sở Tư pháp xin được giải đáp thắc mắc của ông như sau:

Do nội dung câu hỏi ông Phan Văn Minh (sau đây xin được gọi tắt là Ông) nêu ra mang tính khái quát chung mà không đưa ra các thông tin chi tiết nên Sở Tư pháp: (i) chưa có đầy đủ thông tin để xác định Ông ký loại Hợp đồng lao động gì với công ty trong các loại Hợp đồng lao động được quy định tại Khoản 1, Điều 22 Bộ luật Lao động năm 2012; (ii) chưa có cơ sở để xác định việc Ông chấm dứt Hợp đồng lao động với công ty thuộc trường hợp nào được quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 hay ngừng việc; (iii) chưa có cơ sở để xác định việc chấm dứt Hợp đồng lao động của Ông với công ty có đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về lao động hay không; (iv) chưa có cơ sở để xác định Ông đã hoàn thành nghĩa vụ với công ty như nội dung có thỏa thuận trong Hợp đồng lao động khi Ông chấm dứt Hợp đồng lao động với công ty hay chưa; (v) chưa có cơ sở để xác định việc công ty chưa trả lương cho Ông là có căn cứ pháp lý hay không vì chưa rõ giữa Ông với công ty có thỏa thuận về thời hạn trả lương hoặc gia hạn thời hạn trả lương hay không.

Vì vậy, Sở Tư pháp căn cứ vào các quy định của pháp luật lao động để trả lời theo nguyên tắc chung để Ông tham khảo thực hiện như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 47 Bộ luật lao động quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoảncó liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”; Điều 96 quy định về nguyên tắc trả lương như sau: “Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương”.

Như vậy, có thể thấy rằng công ty (Người sử dụng lao động) nơi Ông làm việc đã trả lương không đúng hạn theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động. Vì vậy, theo quy định nêu trên thì công ty nơi Ông đã làm việc phải có trách nhiệm trả đủ tiền lương còn nợ và số tiền tiền lãi do chậm trả lương cho Ông. Để được nhận tiền lương mà công ty còn nợ, Ông cần thực hiện trình tự, thủ tục để yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này như sau:

Trường hợp này, Ông có thể khiếu nại với lãnh đạo công ty. Nếu công ty không giải quyết quyền lợi về tiền lương cho Ông, thì Ông có thể  yêu cầu hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành, Ông có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty của Ông đặt trụ sở để Tòa án tiến hành giải quyết theo các quy định sau:

“Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”.

Tuy nhiên, trường hợp này Ông cũng cần phải cân nhắc Điều 98 của Bộ luật Lao động quy định tiền lương ngừng việc như sau: “Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương.

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định”.

Trên đây là nội dung trả lời của Giám đốc Sở Tư pháp đối với nội dung thắc mắc của ông Phan Văn Minh. Đề nghị ông Phan Văn Minh tham khảo, nghiên cứu và vận dụng cho phù hợp. Rất mong nhận được sự hợp tác! ./.

     19-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước đây đăng ký khai sinh tại Sở Tư pháp, nay muốn đăng ký lại khai sinh thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ?

Trả lời:

Theo khoản 3 Điều 41 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước đây đăng ký khai sinh tại Sở Tư pháp, nay muốn đăng ký lại khai sinh  thì do các cơ quan đăng hộ tịch sau đây thực hiện:

- Nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì do UBND cấp huyện nơi cư trú thực hiện.

- Nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài không cư trú tại Việt Nam thì do Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở hiện nay của Sở Tư pháp thực hiện./.

     16-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Cá nhân yêu cầu đăng ký các sự kiện hộ tịch, những trường hợp nào thì miễn lệ phí hộ tịch?

Trả lời:

Theo Điều 11 Luật Hộ tịch quy định miễn lệ phí đăng ký hộ tịch trong những trường hợp sau:

- Đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật;

- Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

- Cá nhân yêu cầu đăng ký sự kiện hộ tịch khác ngoài các trường hợp trên, yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch phải nộp lệ phí./.

     15-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Người yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì có thể nộp hồ sơ đăng ký thế chấp tại cơ quan nào ?

Trả lời:

Theo Điều 29 Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23 tháng 6 năm 2016 của Bộ Tư pháp  – Bộ Tài Nguyên và  Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất quy định: Người yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đấtlựa chọn nộp hồ sơ đăng ký thế chấp cho một trong các cơ quannhư sau:

- Văn phòng đăng ký đất đai;

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất trong trường hợp người yêu cầu đăng ký là hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa đối với các địa phương đã tổchức bộ phận một cửa để thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả./.

     15-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Tôi bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất ở quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, với số tiền là 7.500.000 đồng. Tuy nhiên, tôi có hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn, tôi phải nuôi mẹ già, vợ ốm đau và 4 con đang đi học. Xin cho tôi hỏi, hoàn cảnh của tôi có được miễn, giảm tiền phạt không và tôi phải thực hiện những thủ tục gì?

Trả lời:

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đối với cá nhân bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng trở lên đang gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn có thể được hoãn thi hành quyết định xử phạt, giảm, miễn tiền phạt. Cụ thể như sau:

Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:

“1. Quyết định phạt tiền có thể được hoãn thi hành trong trường hợp cá nhân bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng trở lên đang gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc.

2. Cá nhân phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét quyết định hoãn thi hành quyết định xử phạt đó.

Thời hạn hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng, kể từ ngày có quyết định hoãn.

3. Cá nhân được hoãn chấp hành quyết định xử phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này”.

Điều 77 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:

“1. Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này mà không có khả năng thi hành quyết định thì có thể được xem xét giảm, miễn phần còn lại tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt.

2. Cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này phải có đơn đề nghị giảm, miễn phần còn lại hoặc toàn bộ tiền phạt gửi người đã ra quyết định xử phạt. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt phải chuyển đơn kèm hồ sơ vụ việc đến cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cấp trên trực tiếp phải xem xét quyết định và thông báo cho người đã ra quyết định xử phạt, người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ra quyết định xử phạt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó xem xét, quyết định việc giảm, miễn tiền phạt.

3. Cá nhân được giảm, miễn tiền phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.”

          Theo quy định nêu trên thì nếu ông đang gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế mà có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ông cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi ông học tập, làm việc đúng như khoản 1, Điều 76 Luật XLVPHC năm 2012 thì ông phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gửi cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt để được xem xét. Nếu ông được hoãn thi hành quyết định xử phạt thì thời hạn hoãn thi hành quyết định xử phạt là không quá 03 tháng, kể từ ngày có quyết định hoãn. Hết thời hạn này, nếu ông không có khả năng thi hành quyết định thì ông phải có đơn đề nghị giảm, miễn phần còn lại hoặc toàn bộ tiền phạt gửi người đã ra quyết định xử phạt để chuyển cho cơ quan trực tiếp xem xét quyết định theo quy định hiện hành./.

     12-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Ông George, quốc tịch Hoa Kỳ có thời gian tạm trú tại tỉnh Bình Định, Việt Nam là 03 năm. Hiện nay ông đã trở về Hoa Kỳ. Nay ông muốn xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp, Trung tâm lý lịch tư pháp Quốc gia thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong hai trường hợp :

- Công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú;

- Người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam.

Ông George đã từng cư trú tại Việt Nam, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật lý lịch tư pháp thì Trung tâm lý lịch tư pháp Quốc gia là cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho ông./.

     07-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hiện nay đang sống tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã đăng ký tạm trú và được cơ quan Công an cấp Sổ tạm trú, muốn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì nộp hồ sơ tại cơ quan nào? Hồ sơ gồm những giấy tờ gì ?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam,  Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam gồm các giấy tờ như sau:

- Bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay thế;

- Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở Việt Nam, Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đối với thời gian người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Phiếu lý lịch tư pháp phải là phiếu được cấp không quá 90 ngày tính đến ngày nộp hồ sơ;

- Giấy tờ chứng minh đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam (Xin hồi hương về Việt Nam; Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam; Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Thực hiện đầu tư tại Việt Nam; Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài; giấy tờ chứng minh người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đang làm thủ tục xin hồi hương về Việt Nam hoặc bản sao giấy tờ chứng nhận việc đầu tư tại Việt Nam)./.

     06-12-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Công dân Việt Nam có thời gian cư trú ở nước ngoài, nay về thường trú tại Việt Nam, có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng không chứng minh được tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú ở nước ngoài thì giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Công dân Việt Nam có thời gian cư trú ở nước ngoài, nay về thường trú tại Việt Nam, có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng không chứng minh được tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú ở nước ngoài thì giải quyết như sau:

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1576/HTQTCT-HT ngày 23 tháng 11 năm 2016 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực Bộ Tư pháp về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong một số trường hợp; UBND xã nơi thường trú của công dân vận dụng theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về việc không có giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú ở nước ngoài, tự chịu trách nhiệm về tình trạng hôn nhân và hệ quả pháp lý của việc cam đoan không đúng sự thật theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 15/2015/TT-BTP. Trên cơ sở đó, UBND nơi thường trú của công dân cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân./.

     03-11-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Một người dân từ huyện Phù Cát có hỏi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì có thể nộp ở đâu ?

Trả lời:

Theo quy định khoản 2 Điều 45 Luật Lý lịch Tư pháp; Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 07 tháng 01 năm 2016 của UBND tỉnh Bình Định về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên địa bàn tỉnh Bình Định, cá nhân thường trú trên địa bàn tỉnh Bình Định có thể nộp hộ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp tỉnh Bình Định, địa chỉ: 139 đường Lê Lợi, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hoặc tại các điểm Bưu điện của tỉnh Bình Định trên địa bàn tỉnh Bình Định./.

     02-11-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Hiện nay, người dân khi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ em dưới 6 tuổi có thể đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký thường trú và cấp bảo hiểm y tế được không? nộp hồ sơ ở đâu và hồ sơ gồm những giấy tờ nào?

Trả lời:

Theo quy định của Thông tư số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tư pháp- Bộ Công an - Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh , đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em đước 6 tuổi, Người dân khi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ dưới 6 tuổi có thể đồng thời thực hiện thủ tục đăng thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế.

UBND cấp xã là đầu mối tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết liên thông các thủ tục hành chính; chịu trách nhiệm về tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ; lập và chuyển hồ sơ cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

- Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu quy định;

- Giấy chứng sinh; nếu trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì giấy chứng sinh được thay thế bằng văn bản xác nhận của người làm chứng; trường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Đối trẻ em bị bỏ rơi thì nộp biện bản về việc trẻ em bị bỏ rơi thay cho giấy chứng sinh. Trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ thì nộp thêm văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo đúng quy định của pháp luật.

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu theo mẫu quy định;

- Sổ hộ khẩu

Trường hợp trẻ em có cha, mẹ nhưng không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ mà đăng ký thường trú với người khác thì phải có ý kiến bằng văn bản của cha, mẹ, có xác nhận của UBND cấp xã; ý kiến của chủ hộ và Sổ hộ khẩu chủ hộ.

- Tờ khai tham gia bảo hiểm y tế theo mẫu quy định.

     29-08-2016   Trả lời có tính chất tham khảo
 Người gửi:
 Email:
 Địa chỉ:
 Điện thoại:
  Câu hỏi:

Tôi là một Luật sư, xin Sở Tư pháp cho biết tôi có đồng thời hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân được không và thủ tục đăng ký hành nghề như thế nào?

Trả lời:

Tại khoản 6 Điều 9 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản “ Luật sư, kiểm toán viên được đồng thời hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật về phá sản”. Như vậy, theo quy định trên thì Luật sư được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.

Trường hợp cá nhân muốn hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân thì phải đáp ứng đủ điều kiện và thực hiện thủ tục đăng ký hành nghề theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ. Cụ thể như sau:

1. Người đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân phải có Chứng chỉ hành nghề Quản tài viên và phải có địa chỉ giao dịch.

Người đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người đó thường trú.

2. Người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi 01 bộ hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến Sở Tư pháp và nộp lệ phí đăng ký hành nghề theo quy định của pháp luật. Hồ sơ gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân theo mẫu TP-QTV-04 ban hành kèm theo Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ;

b) Bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp Phiếu lý lịch tư pháp.

Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp thì xuất trình bản chính giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này để đối chiếu.

Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Sở Tư pháp khi có yêu cầu thì xuất trình bản chính giấy tờ quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này.

3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp quyết định ghi tên người đề nghị đăng ký vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản và thông báo bằng văn bản cho người đó; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Văn bản ghi tên vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là căn cứ chứng minh tư cách hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của Quản tài viên hành nghề với tư cách cá nhân./.


 
     HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
  • Giao lưu bóng đá Chi đoàn Sở Tư pháp - Chi cục THADS - Viện Kiểm sát - Phòng PA83 CA Tỉnh
  • Đồng chí Trần Châu, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác tư pháp năm 2016
  • Đồng chí Trần Châu, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác PBGDPL năm 2016
  • Giám đốc Sở Tư pháp trao bằng khen của Bộ Tư pháp cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2016
  • Giám đốc Sở Tư pháp trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Tư pháp” của Bộ Tư pháp cho các cá nhân đã có nhiều công lao, đóng góp xây dựng ngành Tư pháp Việt Nam
  • Công đoàn Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm kỷ niệm 107 năm ngày quốc tế phụ nữ 08/3/1910 - 08/3/2017
  • Công đoàn Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm kỷ niệm 107 năm ngày quốc tế phụ nữ 08/3/1910 - 08/3/2017
  • Ban chấp hành Chi đoàn Sở Tư pháp khóa XI, nhiệm kỳ 2017 - 2019
  • Vân động viên Công đoàn Sở Tư pháp (nữ, áo màu xanh) đạt giải Khuyến khích toàn đoàn, Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Nữ vận động viên Đoàn viên Công đoàn Sở Tư pháp (đứng vị thứ 2 và 6 tính từ phải sang trái) đạt giải Khuyến khích tham gia Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Nam vận động viên Đoàn viên Công đoàn Sở Tư pháp (đứng vị thứ 8, tính từ phải sang trái) đạt giả Khuyến khích tham gia Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Ban Điều hành và các thành viên mô hình Sở Tư pháp Bình Định an toàn về an ninh trật tự
  • Giám đốc sở Tư pháp (ngoài cùng bên trái) tặng hoa chúc mừng Ban chấp hành Hội Công chứng tỉnh Bình Định, nhiệm kỳ 2016 -2021
  • Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác tư pháp năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017
  • Hội Công chứng viên tỉnh Bình Định chụp ảnh lưu niệm
  • Đồng chí Lê Văn Toàn, Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị tập huấn chuyên sâu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016
  • Đồng chí Trần Châu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội nghị phổ biến Bộ Luật Dân sự và Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015
  • Công đoàn viên chức cơ sở Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ 2012 - 2017
  • Hội nghị trực tuyến quán triệt, triển khai Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sơ dữ liệu quốc gia về pháp luật tại điểm cầu tỉnh Bình Định
  • Lễ ký kết Quy chế phối hợp công tác giữa Sở Tư pháp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định
  • Đồng chí Lê Văn Toàn, Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị phổ biến Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặt biệt và Luật Qu
  • Lễ trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng đợt 02/9/2016 cho đồng chí Lê Quý Đôn
  • Đồng chí Lê Văn Toàn, Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị Hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Hội nghị hưởng ứng Ngày Pháp luật Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  • Hội nghị tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2015 Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh Duyên hải miền trung và Tây nguyên
  • Đ/c Nguyễn Bá - Phó GĐ Sở Tư pháp phát biểu tại Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác Tư pháp cấp xã năm 2015
  • Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2016
  • Hội nghị triển khai công tác Tư pháp năm 2016
  • Sở Tư pháp Bình Định tham gia giải việt dã năm 2016 do Công đoàn viên chức tỉnh tổ chức
  • Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật  tỉnh: Triển khai công tác năm 2016
  • Đồng chí Phan Cao Thắng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể có thành tích trong công tác PBGDPL năm 2015
  • Đồng chí Phan Cao Thắng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Phối hợp PBGDPL tỉnh tặng bằng khen cho các cá nhân có thành tích trong công tác PBGDPL năm 2015
  • Đ/c Lê Văn Toàn - Giám đốc Sở Tư pháp, phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng năm 2016
  • Đồng chí Trần Châu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Phổ biến Luật Tổ chức chính quyền địa phương
  • Giám đốc Sở Tư pháp - Lê Văn Toàn thừa ủy quyền UBND tỉnh phát biểu khai mạc Hội nghị phổ biến Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế
  • Giám đốc Sở Tư pháp - Lê Văn Toàn thừa ủy quyền UBND tỉnh tại Hội nghị trực tuyến quán triệt việc thi hành Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính
  • Giám đốc Sở Tư pháp - Lê Văn Toàn thừa ủy quyền UBND tỉnh tại Hội nghị phổ biến Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về thi hành Bộ luật Hình sự
  • Nguyên Bộ Trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường về thăm và làm việc tại Bình Định
  • Lễ bế giảng và trao bằng tốt nghiệp lớp Đại học Luật hệ vừa làm vừa học Khóa V mở tại Bình Định
     THÔNG BÁO
     VIDEO
Công dân hỏi - Giám đốc sở trả lời
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Số điện thoại liên hệ cấp LLTP
Dich vụ cấp phiếu LLTP trực tuyến
Đánh giá trực tuyến
Dịch vụ công trực tuyến
Lấy ý kiến VBQPPL
Quyết định hủy Giấy CNQSDĐ
     SỐ LƯỢT TRUY CẬP
  Đang online:               47
  Số lượt truy cập: 820865
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP BÌNH ĐỊNH
Trụ sở: 139 Lê Lợi - TP.Quy Nhơn - Bình Định
Điện thoại: 056.3813905 - Fax: 056.3823772. Email: sotuphap@stp.binhdinh.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Văn Toàn - Giám đốc Sở Tư pháp