TRANG CHỦ    
Bộ Tư pháp
Công thông tin điện tử pháp điển
Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
Văn bản chỉ đạo điều hành của tỉnh
Công báo tỉnh Bình Định
Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định
Trung tâm DVBĐGTS
Văn phòng Thừa phát lại Bình Định
Cơ sở dử liệu TTHC
Luật Việt Nam
Văn phòng điện tử
Thư điện tử công vụ
Phần mềm chỉ đạo điều hành

HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP


49. Câu hỏi:

Một tài sản chỉ được dùng để thế chấp cho một khoản vay hay một tài sản có thể được dùng để thế chấp cho nhiều khoản vay?

Trả lời có tính chất tham khảo

Khoản 1, Điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Căn cứ theo quy định này thì: một tài sản có thể được dùng để thế chấp cho nhiều khoản vay, nếu giá trị tài sản đó tại thời điểm thế chấp lớn hơn tổng giá trị các khoản vay, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Tuy nhiên, cần lưu ý là: “Trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản” (theo Khoản 2, Điều 296 Bộ luật Dân sự năm 2015)./.

 

48. Câu hỏi:

Đề nghị Sở Tư pháp cho tôi biết quy định chi tiết về niêm yết việc đấu giá tài sản? 

Trả lời có tính chất tham khảo

Tại Điều 35 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định như sau:

1. Tổ chức đấu giá tài sản niêm yết việc đấu giá tài sản như sau:

a) Đối với tài sản là động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình, nơi trưng bày tài sản (nếu có) và nơi tổ chức cuộc đấu giá ít nhất là 07 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá;

b) Đối với tài sản là bất động sản thì tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình, nơi tổ chức cuộc đấu giá và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá ít nhất là 15 ngày trước ngày mở cuộc đấu giá

2. Các thông tin chính phải niêm yết bao gồm:

a) Tên, địa chỉ của tổ chức đấu giá tài sản và người có tài sản đấu giá;

b) Các nội dung quy định như: Tên tài sản hoặc danh mục tài sản, số lượng, chất lượng của tài sản đấu giá, nơi có tài sản đấu giá, giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản đấu giá; Thời gian, địa điểm xem tài sản đấu giá; Thời gian, địa điểm bán hồ sơ tham gia đấu giá; Giá khởi điểm của tài sản đấu giá trong trường hợp công khai giá khởi điểm; Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá, tiền đặt trước; Thời gian, địa điểm, điều kiện, cách thức đăng ký tham gia đấu giá; Thời gian, địa điểm tổ chức cuộc đấu giá; Hình thức đấu giá, phương thức đấu giá;

3. Tổ chức đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết đấu giá tài sản trong hồ sơ đấu giá. Đối với trường hợp niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đấu giá thì tổ chức đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết hoặc lập văn bản có xác nhận về việc niêm yết của Ủy ban nhân dân cấp xã.

4.Ngoài việc niêm yết quy định theo quy định trên, tổ chức đấu giá tài sản thực hiện thông báo công khai việc đấu giá tài sản theo quy định tại Điều 57 của Luật đấu giá tài sản theo yêu cầu của người có tài sản đấu giá./.

 

47. Câu hỏi:

Doanh nghiệp đấu giá tài sản A và Doanh nghiệp đấu giá tài sản B đang làm thủ tục hợp nhất thành Doanh nghiệp đấu giá tài sản AB. Vậy theo quy định pháp luật, Doanh nghiệp đấu giá tài sản A và Doanh nghiệp đấu giá tài sản B có bị chấm dứt hoạt động không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Luật đấu giá tài sản năm 2016, Doanh nghiệp đấu giá tài sản chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau đây:

- Giải thể;

- Hợp nhất, bị sáp nhập;

- Phá sản;

- Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật đấu giá tài sản.

 

Như vậy theo quy định trên, đối chiếu với tình huống đưa ra, khi hợp nhất thành Doanh nghiệp đấu giá tài sản AB, Doanh nghiệp đấu giá tài sản A và Doanh nghiệp đấu giá tài sản B chấm dứt hoạt động theo quy định pháp luật./.

 

46. Câu hỏi:

Tôi có ý định thành lập công ty tách nhiệm hữu hạn. Xin cho tôi hỏi hồ sơ đăng ký cần những gì ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 22của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn như sau:

1. Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

2. Điều lệ công ty.

3. Danh sách thành viên.

4. Bản sao các giấy tờ sau đây:

a) Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của các thành viên là cá nhân;

b) Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền; Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức.

Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự;

 

c) Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư./.

 

45. Câu hỏi:

Nhà nước quy định thế nào về quyền của doanh nghiệp?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 7của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì quyền của doanh nghiệp được quy định như sau:

1. Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

2. Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh.

3. Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.

4. Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng.

5. Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.

6. Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.

7. Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

8. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.

9. Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật.

10. Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

11. Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

12. Quyền khác theo quy định của luật có liên quan./.

 

44. Câu hỏi:

Doanh nghiệp được quyền có nhiều con dấu hay không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Khoản 1, Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Nội dung con dấu phải thể hiện những thông tin sau đây:Tên doanh nghiệp; Mã số doanh nghiệp”.

Khoản 1, Điều 12 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, Hội đng thành viên đi với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần quyết đnh số lượng, hình thức, nội dung và mẫu con dấu, việc quản lý và sử dụng con dấu, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác. Nội dung Điều lệ hoặc Quyết định về con dấu của doanh nghiệp phải bao gồm:Mu con dấu, gồm: Hình thức, kích cỡ, nội dung, mầu mực dấu; Số lượng con dấu; Quy định về quản lý và sử dụng con dấu”.

Căn cứ theo các quy định nêu trên thì doanh nghiệp được quyền có nhiều con dấu. Doanh nghiệp có quyền chủ động trong việc quyết định số lượng con dấu của doanh nghiệp mình./.

 

43. Câu hỏi:

Cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm có thể trả kết quả cho người yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng phương thức nào ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo Điều 17Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm quy địnhkết quả đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được cơ quan đăng ký trả cho người yêu cầu đăng ký theo một trong các phương thức sau đây:

- Trực tiếp tại cơ quan đăng ký.

Trường hợp nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã, thì Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trả kết quả cho người yêu cầu đăng ký;

-  Qua đường bưu điện;

- Phương thức khác do cơ quan đăng ký và người yêu cầu đăng ký thỏa thuận./.

 

42. Câu hỏi:

Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm là bao nhiêu ngày ? 

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo Điều 16 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảmquy định:

- Cơ quan đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin trong ngày nhận hồ sơ hợp lệ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì hoàn thành việc đăng ký, cung cấp thông tin ngay trong ngày làm việc tiếp theo; trường hợp phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, thì cũng không quá 03 ngày làm việc.

- Trường hợp nộp hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) hoặc nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, thì thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký được tính từ ngày Văn phòng đăng ký đất đai nhận hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc do Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa chuyển đến.

Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được tính từ ngày cơ quan đăng ký nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ./.

 

41. Câu hỏi:

Căn cứ nào để Cơ quan có thẩm quyền đăng ký biện pháp bảo đảm từ chối đăng ký biện pháp bảo đảm ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định Điều 15Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm,thìCơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm từ chối đăng ký khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Không thuộc thẩm quyền đăng ký;

-  Khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không phù hợp với thông tin được lưu giữ tại cơ quan đăng ký hoặc có giấy tờ giả mạo;

- Người yêu cầu đăng ký không nộp phí đăng ký, trừ trường hợp không phải nộp phí đăng ký theo quy định của pháp luật;

- Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở không đủ điều kiện thế chấp theo quy định của Luật đất đai và Luật nhà ở. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở có tranh chấp, thì cơ quan đăng ký chỉ từ chối đăng ký khi đã có văn bản thụ lý hoặc văn bản chứng minh việc thụ lý giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp;

- Kê khai nội dung đăng ký không đúng quy định của pháp luật;

- Yêu cầu đăng ký thay đổi, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, yêu cầu sửa chữa sai sót trong trường hợp đã xóa đăng ký biện pháp bảo đảm;

- Khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản của Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Thừa phát lại của Văn phòng thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc đăng ký đối với tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm là người phải thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

- Khi cơ quan đăng ký nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án là tài sản bảo đảm do cơ quan thi hành án hoặc Văn phòng thừa phát lại gửi đến.

Đồng thời khi từ chối đăng ký, người tiếp nhận hồ sơ phải lập văn bản từ chối, trong đó nêu rõ lý do từ chối và hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.Việc từ chối được thực hiện trong ngày nhận hồ sơ; nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ, thì việc từ chối được thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo./.

 

40. Câu hỏi:

Tôi đang là chủ của một doang nghiệp tư nhân nhưng nay tôi muốn chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Cho tôi hỏi pháp luật quy định như thế nào và thời gian bao lâu?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 199của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thanh công ty trách nhiệm hữu hạn quy định như sau:

1. Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nếu đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này;

b) Chủ doanh nghiệp tư nhân phải là chủ sở hữu công ty (đối với trường hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu) hoặc thành viên (đối với trường hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên);

c) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;

d) Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó;

đ) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều này, Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo cho các cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này; đồng thời cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp./.

 

39. Câu hỏi:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tiêu chí nào để xác định là doanh nghiệp nhỏ và vừa ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:

“Điều 3. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa

1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

 

Quy mô

 

 

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

II. Công nghiệp và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng

từ trên 200 người đến 300 người

III. Thương mại và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

từ trên 50 người đến 100 người

2. Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan điều tra, tổng hợp và công bố số liệu thống kê về doanh nghiệp nhỏ và vừa hàng năm theo định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Nghị định này”.

Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vùa vừa quy định về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:

“Điều 4. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:

a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;

b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.

2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Căn cứ vào các quy định này thì tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa có sự khác nhau giữa Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do Nghị định số 56/2009/NĐ-CP đang có hiệu lực thi hành, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 nên hiện nay, tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP nêu trên và các quy định khác của pháp luật liên quan.

Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ có quy định chi tiết về tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa để cụ thể hóa Khoản 3, Điều 4 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nêu trên. Do đó, khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu thi hành (kể từ ngày 01/01/2018) thì tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ thực hiện theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn của Chính phủ./.

 

38. Câu hỏi:

Tôi là luật sư tại Văn phòng luật sư A được 03 năm. Hiện nay Văn phòng luật sư A muốn mở rộng thêm hoạt động trong lĩnh vực đấu giá tài sản.  Vậy theo quy định pháp luật, tôi có phải tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá để đảm bảo yêu cầu công việc và được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 12 Luật đấu giá tài sản năm 2016, người được miễn đào tạo nghề đấu giá bao gồm:

-Người đã là luật sư, công chứng viên, thừa phát lại, quản tài viên, trọng tài viên có thời gian hành nghề từ 02 năm trở lên.

-Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì ông (bà) đã là luật sư và có thời gian hành nghề được 03 năm nên có đủ điều kiện được miễn đào tạo nghề đấu giá theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 13 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì ông (bà) phải tập sự hành nghề đấu giá tài sản tại tổ chức đấu giá tài sản trong thời gian 06 tháng và phải đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá do Bộ Tư pháp tổ chức thì mới đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá./.

 

37. Câu hỏi:

Bạn tôi có mở công ty X chuyên kinh doanh về bóng đèn led và có mời tôi cùng với các bạn khác góp vốn cùng nhau kinh doanh. Xin cho tôi hỏi khi tôi đã là thành viên góp vốn của công ty thì quyền và nghĩa vụ thành viên được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 182của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn được quy định như sau:

1. Thành viên góp vốn có các quyền sau đây:

a) Tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại và giải thể công ty và các nội dung khác của Điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ;

b) Được chia lợi nhuận hằng năm tương ứng với tỷ lệ vốn góp trong vốn điều lệ của công ty;

c) Được cung cấp báo cáo tài chính hằng năm của công ty; có quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên hợp danh cung cấp đầy đủ và trung thực các thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của công ty; xem xét sổ kế toán, biên bản, hợp đồng, giao dịch, hồ sơ và tài liệu khác của công ty;

d) Chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác;

đ) Nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác tiến hành kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty;

e) Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách để thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố và các hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; trường hợp chết thì người thừa kế thay thế thành viên đã chết trở thành thành viên góp vốn của công ty;

g) Được chia một phần giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với tỷ lệ vốn góp trong vốn điều lệ công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản;

h) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

2. Thành viên góp vốn có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp;

b) Không được tham gia quản lý công ty, không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty;

c) Tuân thủ Điều lệ, nội quy công ty và quyết định của Hội đồng thành viên;

 

d) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty./.

 

36. Câu hỏi:

Đề nghị Sở Tư pháp cho tôi biết điều kiện và trình tự thủ tục đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản theo Luật đấu giá tài sản năm 2016?

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Về điều kiện đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá tài sản: Theo quy định tại khoản 3 Điều 23 Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17/11/2016 thì doanh nghiệp đấu giá tài phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn như sau:

a) Doanh nghiệp đấu giá tư nhân có chủ doanh nghiệp là đấu giá viên, đồng thời là Giám đốc doanh nghiệp; Công ty đấu giá hợp danh có ít nhất một thành viên hợp danh là đấu giá viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh là đấu giá viên;

b) Có trụ sở, cơ sở vật chất, các trang thiết bị cần thiết bảo đảm cho hoạt động đấu giá tài sản.

2. Về trình tự thủ tục đăng ký hoạt động: có ba trường hợp như sau:

 2.1. Đối với doanh nghiệp được thành lập sau khi Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành: Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật đấu giá tài sản thì doanh nghiệp phải có đủ điều kiện quy định gửi một bộ hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động đấu giá tài sản đến Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp đặt trụ sở và nộp phí theo quy định của pháp luật. Hồ sơ bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động;

b) Điều lệ của doanh nghiệp đối với công ty đấu giá hợp danh;

c) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu Chứng chỉ hành nghề đấu giá của chủ doanh nghiệp đấu giá tư nhân, Chứng chỉ hành nghề đấu giá của thành viên hợp danh, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty đấu giá hợp danh;

d) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của doanh nghiệp đấu giá tài sản, cam kết bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động đấu giá tài sản.

2.2. Đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản thành lập trước ngày Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành chuyển đổi toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật đấu giá tài sản thì doanh nghiệp gửi một bộ hồ sơ đăng ký hoạt động đến Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp có trụ sở. Hồ sơ bao gồm các giấy tờ quy định tại các điểm a, b và c của trường hợp 2.1 nêu trên.

2.3. Đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản thành lập trước ngày Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành tiếp tục hoạt động đấu giá tài sản và kinh doanh các ngành nghề khác: Doanh nghiệp thành lập một doanh nghiệp đấu giá tài sản mới có đủ điều kiện như trên và đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp như trường hợp doanh nghiệp thành lập sau khi Luật đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành./.

 

35. Câu hỏi:

Bạn Nguyễn Tố Q, địa chỉ qtonguyen@gmail.com hỏi: Tôi sinh con và nghỉ thai sản tính đến 15/7/2017 là hết thời gian nghỉ 6 tháng theo quy định nhưng sức khỏe tôi còn yếu, con còn quá nhỏ nên tôi muốn xin nghỉ thêm một thời gian cho sức khỏe hồi phục và con lớn thêm có được không? Chế độ tiền lương trong thời gian nghỉ thêm như thế nào và trong thời gian này bên công ty có được quyền sa thải tôi không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Trước hết, Giám đốc Sở Tư pháp cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục“Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp” của chúng tôi, với trường hợp của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

          Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn mang thai và nghỉ thai sản tính đến 15/7/2017 là hết thời gian nghỉ 6 tháng. Như vậy, đến thời điểm 15/7/2017 làbạn đã hết thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản của bảo hiểm xã hội. Do vậy, trong thời điểm này, bạn có thể xin nghỉ chế độ dưỡng sức sau sinh. Tuy nhiên, chế độ dưỡng sức sau sinh cũng rất giới hạn số ngày nghỉ của bạn và bạn phải thực hiện chế độ này trong vòng 60 ngày sau khi trở lại làm việc mà thấy sức khỏe còn yếu thì được hưởng chế độ dưỡng sức sau sinh; nếu bạn đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản:

          “1. Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày.

          Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

          2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:

          a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;

          b) Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;

          c) Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

          3. Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở

          Nếu như bạn đã hưởng xong chế độ dưỡng sức sau sinh mà vẫn có nguyện vọng nghỉ tiếp thì bạn cần làm đơn xin nghỉ không lương nộp lên ban lãnh đạo đơn vị để đơn vị xét duyệt và cho phép bạn nghỉ trong trường hợp này. Căn cứ để bạn thực hiện chế độ này được thực hiện theo quy định tại Điều 116  Bộ luật lao động 2012 về nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương là:

          1. Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây:

          a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

          b) Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

          c) Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

          2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

          3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương”.

          Căn cứ vào các quy định trên, thời gian nghỉ không lương hoàn toàn dựa vào sự thỏa thuận giữa ban lãnh đạo đơn vị và bạn. Luật không có quy định cụ thể về việc bạn được nghỉ không lương tối đa bao nhiêu ngày trong một năm. Về chế độ tiền lương trong thời gian này, bạn sẽ không được chi trả tiền lương tiền công do không phát sinh quan hệ lao động trên thực tế đối với phía đơn vị công tác.

          Về vấn đề sa thải người lao động, căn cứ Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Lao động 2012 quy định nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động như sau:

          “…4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

          a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

          b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

          c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

          d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

          5. Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.

          Như vậy, theo quy định Khoản 4, Điều 123 Bộ luật Lao động 2012, trong thời gian bạn đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì công ty bạn không được xử lý kỷ luật sa thải đối với bạn./.

 

            

34. Câu hỏi:

Pháp luật quy định như thế nào về tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:

1Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;

b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

2. Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;

b) Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;

c) Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;

d) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;

đ) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp.

3. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội.

 

33. Câu hỏi:

Pháp luật quy định như thế nào về việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:

1. Doanh nghiệp có quyền lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài. Doanh nghiệp có thể đặt một hoặc nhiều chi nhánh, văn phòng đại diện tại một địa phương theo địa giới hành chính.

2. Trường hợp lập chi nhánh, văn phòng đại diện trong nước, doanh nghiệp gửi hồ sơ đăng ký hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện đến Cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền nơi doanh nghiệp đặt chi nhánh, văn phòng đại diện. Hồ sơ bao gồm:

a) Thông báo lập chi nhánh, văn phòng đại diện;

b) Bản sao quyết định thành lập và bản sao biên bản họp về việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp; bản sao Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện thì thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do; các yêu cầu sửa đổi, bổ sung (nếu có).

4. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện phải gửi thông tin cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và gửi thông tin đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; định kỳ gửi thông tin đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đặt chi nhánh, văn phòng đại diện.

5. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi./.

 

32. Câu hỏi:

Đề nghị Sở Tư pháp cho tôi biết điều kiện để được hành nghề đấu giá viên?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 10, Điều  14 Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 ngày 17/11/2016 thì cá nhân muốn hành nghề đấu giá viên phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của đấu giá viên, được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá và hành nghề tại một tổ chức đấu giá tài sản. Cụ thể như sau:

1. Cá nhân phải có đủ các tiêu chuẩn sau:

a) Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt;

b) Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học thuộc một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng;

c) Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 11 của Luật Đấu giá tài sản năm 2016, trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề đấu giá quy định tại Điều 12 của Luật này;

d) Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá.

2. Cá nhân có đủ tiêu chuẩn theo quy định trên gửi một bộ hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá đến Bộ Tư pháp và nộp phí theo quy định của pháp luật. Hồ sơ bao gồm:

a) Giấy đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá;

b) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu bằng tốt nghiệp đại học hoặc bằng trên đại học thuộc một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng;

c) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề đấu giá;

d) Văn bản xác nhận đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá;

đ) Phiếu lý lịch tư pháp;

e) Một ảnh màu cỡ 3 cm x 4 cm.

3. Sau khi được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá, đấu giá viên được hành nghề theo các hình thức sau:

a) Hành nghề tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản;

b) Hành nghề tại doanh nghiệp đấu giá tài sản;

c) Hành nghề tại tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng./.

 

31. Câu hỏi:

Hai doanh nghiệp (không phải là tổ chức tín dụng) được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì có được thỏa thuận thanh toán bằng đô la Mỹ (USD) khi ký kết hợp đồng mua bán hay không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Khoản 13, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.

Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối quy định: “Tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam”là người cư trú.

Điểm a, Khoản 1, Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 quy định: “Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực”là ngoại hối. Do vậy, đô la Mỹ (USD) là ngoại hối theo quy định tại Pháp lệnh ngoại hối năm 2005.

Căn cứ theo các quy định trên, đối chiếu với nội dung câu hỏi, Sở Tư pháp trả lời về nguyên tắc rằng: hai doanh nghiệp (không phải là tổ chức tín dụng) được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì không được thỏa thuận thanh toán bằng đô la Mỹ (USD) khi ký kết hợp đồng mua bán, trừ trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Hiện nay, Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; Thông tư số 16/2015/TT-NHNN ngày 19/10/2015 của Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam đang có hiệu lực thi hành. Quý doanh nghiệp căn cứ vào các quy định cụ thể tại hai Thông tư này để xác định xem doanh nghiệp của mình có thuộc trường hợp được phép thỏa thuận thanh toán bằng USD trong hợp đồng hay không./.

 

30. Câu hỏi:

Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định những điều kiện nào để được áp dụng hình thức nộp tiền phạt nhiều lần?

Trả lời có tính chất tham khảo

Khoản 1 Điều 79 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định một số điều kiện để áp dụng việc nộp tiền phạt nhiều lần, cụ thể như sau:

- Về điều kiện:

a) Đối với cá nhân: Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: Cá nhân bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng trở lên; Cá nhân người vi phạm đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế.

b) Đối với tổ chức: Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: Tổ chức bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng trở lên; Tổ chức vi phạm hành chính đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp.

- Về thời hạn nộp tiền phạt: Khoản 2 Điều 79 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 06 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần và mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.

- Về thời hạn gửi đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần: Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ quy định: Trong trường hợp mà cá nhân, tổ chức đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 76 và Điều 79 Luật xử lý vi phạm hành chính, thì phải có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần gửi người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt. Nếu quá thời hạn quy định nêu trên mà cá nhân, tổ chức không gửi đơn xin nộp tiền phạt nhiều lần thì sẽ không được xem xét để áp dụng việc nộp tiền phạt nhiều lần./.

 

39. Câu hỏi:

 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và nguyên tắc áp dụng?

Trả lời có tính chất tham khảo     

Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định:

          1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

          a) Cảnh cáo;

          b) Phạt tiền;

          c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

          d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);

          đ) Trục xuất.

          2. Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.

          Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.

          3. Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này. Hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính./.

 

28. Câu hỏi:

Theo tôi được biết là sau khi thành lập Văn phòng giám định tư pháp xong, tôi phải đăng ký hoạt động của Văn phòng với Sở Tư pháp thì mới được phép hoạt động. Kính đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn cho tôi vể trình tự, thủ tục của việc đăng ký hoạt động của Văn phòng Giám định tư pháp? 

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 17 Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 thì trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép thành lập, Văn phòng giám định tư pháp đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp và Văn phòng được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động. Hồ sơ đăng ký hoạt động cho Văn phòng giám định tư pháp gồm có:

1. Đơn đề nghị đăng ký hoạt động;

2. Quy chế tổ chức, hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp;

3. Giấy tờ chứng minh có đủ điều kiện bảo đảm hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp theo Đề án thành lập quy định tại điểm d khoản 2 Điều 16 của Luật này;

4. Bản sao quyết định cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp.

Trong đó, Đơn đề nghị đăng ký hoạt động của Văn phòng giám định tư pháp phải có những nội dung cơ bản theo quy định tại Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp như sau:

- Số quyết định cho phép thành lập Văn phòng;

- Tên đầy đủ của Văn phòng, tên viết tắt (nếu có);

- Địa chỉ trụ sở của Văn phòng;

- Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; số chứng minh thư nhân dân của người đại diện theo pháp luật của Văn phòng;

- Lĩnh vực giám định tư pháp;

 

- Danh sách thành viên hợp danh của Văn phòng (nếu có)./.

 

27. Câu hỏi:

Khi doanh nghiệp A không thực hiện việc cung cấp trái cây theo đúng hợp đồng mua bán cho doanh nghiệp của tôi. Doanh nghiệp của tôi có thể vừa yêu cầu doanh nghiệp A chịu chế tài phạt vi phạm như đã thỏa thuận trong hợp đồng, vừa yêu cầu doanh nghiệp A bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp của tôi hay không? Tôi xin cung cấp thêm thông tin là việc giao nhận trái cây được thực hiện tại tỉnh Phú Yên; doanh nghiệp A và doanh nghiệp của tôi đều là công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đều được phép kinh doanh trái cây.

Trả lời có tính chất tham khảo

Doanh nghiệp A và doanh nghiệp của Ông/bà đều là công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập theo Luật Doanh nghiệp và đều được phép kinh doanh trái cây. Do đó, căn cứ theo Điều 1, Điều 2, Khoản 1 Điều 3 và Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 thì hoạt động mua bán giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp của Ông/bà là hoạt động thương mại giữa hai thương nhân Việt Nam được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, Luật Thương mại năm 2005 sẽ được áp dụng trong trường hợp này.  

Khi xác định doanh nghiệp của Ông/bà có quyền yêu cầu doanh nghiệp A thực hiện chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại hay không thì phải căn cứ vào hợp đồng mua bán, căn cứ vào các văn bản giao dịch giữa hai bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, tình hình thực tế thực hiện hợp đồng và các yếu tố khác có liên quan. Do không có đầy đủ các tài liệu và thông tin này nên Sở Tư pháp chỉ có thể trả lời về mặt nguyên tắc áp dụng pháp luật.

Theo quy định tại Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 thì:

“Điều 307. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại

1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.

Căn cứ theo Khoản 2, Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 nêu trên, đối chiếu với thông tin Ông/bà cung cấp thì về nguyên tắc, doanh nghiệp của Ông/bà có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại đối với doanh nghiệp A./.

 

26. Câu hỏi:

Ông Trần Thế V, cư trú tại thành phố Quy Nhơn hỏi: Tôi năm nay 56 tuổi đang làm việc tại một đơn vị sự nghiệp công lập, mới đây cơ quan có thông báo tôi thuộc diện tinh giản biên chế nghỉ hưu trước tuổi theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP. Tôi đã làm việc tại cơ quan này 33 năm và tham gia đầy đủ bảo hiểm xã hội. Tôi xin hỏi, khi nghỉ hưu trước tuổi do tinh giản biên chế tôi được hưởng những quyền lợi gì?

Trả lời có tính chất tham khảo

Trước hết, Giám đốc Sở Tư pháp trân trọng cảm ơn ông Trần Thế V (sau đây gọi tắt là Ông) đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Chuyên mục “Công dân hỏi, Giám đốc Sở trả lời” của Sở Tư pháp. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về chính sách tinh giản biên chế, Giám đốc Sở Tư pháp trả lời thắc mắc theo nội dung thư đề nghị của Ông như sau:

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 Về chính sách tinh giản biên chế quy định các trường hợp tinh giản biên chế gồm:

1. Cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công chức cấp xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức), thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự;

b) Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác;

c) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn;

d) Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác.

đ) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

e) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp.

g) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành.

2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

3. Viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự.

4. Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, kiểm soát viên của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu dôi dư do thực hiện cổ phần hóa, giao, bán, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc chuyển thành đơn vị sự nghiệp công lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của các nông, lâm trường quốc doanh dôi dư do sắp xếp lại theo quy định của Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh.

5. Những người là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, khi thôi làm đại diện phần vốn nhà nước, nhưng không bố trí được vào vị trí công tác mới.

6. Những người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho các hội thuộc danh sách dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Về chính sách được áp dụng đối với các trường hợp tinh giản biên chế, Điều 8 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP quy định:

1. Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu đủ 50 tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nam, đủ 45 tuổi đến đủ 48 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, còn được hưởng các chế độ sau:

a. Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi;

b.  Được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định về tuổi tối thiểu tại Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội;

c.  Được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho hai mươi năm đầu công tác, có đóng đủ bảo hiểm xã hội. Từ năm thứ hai mươi mốt trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

2. Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu đủ 55 tuổi đến đủ 58 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và chế độ quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều này và được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội.

3. Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nam, trên 48 tuổi đến dưới 50 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

4. Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 58 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Đối chiếu với những quy định trên, trường hợp của Ông sẽ được hưởng các quyền lợi sau:

- Về chế độ hưu trí: Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi; được nhận lương hưu hàng tháng và được cấp thẻ bảo hiểm y tế.

- Được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho hai mươi năm đầu công tác, có đóng đủ bảo hiểm xã hội. Từ năm thứ hai mươi mốt trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

Vì thế, trong 20 năm đầu công tác, ông sẽ được hưởng trợ cấp 05 tháng tiền lương. Từ năm thứ 21 đến năm thứ 33, ông có 13 năm đóng BHXH tương ứng với 13 x 1/2 tháng = 6,5 tháng tiền lương

Vậy số tiền trợ cấp trong trường hợp này là 5 + 6.5 tháng = 11,5 tháng tiền lương.

- Trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Thời gian nghỉ hưu trước tuổi của ông là: 60 - 56 tuổi = 4 năm. Theo đó, ông sẽ được hưởng: 4 x 3 = 12 tháng tiền lương.

Như vậy, khi ông nghỉ hưu trước tuổi do tinh giản biên chế ngoài chế độ hưu trí được quy định trên thì ông còn được hưởng quyền lợi tương ứng với 23,5 tháng tiền lương  (12 + 11,5 = 23,5 tháng tiền lương)./.

 

25. Câu hỏi:

Ông Nguyễn K thường trú tại Tuy Phước hỏi: Tôi bị xử phạt về vi phạm giao thông do điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá quy định. Theo quyết định xử phạt của Cảnh sát giao thông, tôi bị phạt tiền 2.500.000 đồng và bị tước quyền sử dụng Bằng lái xe 60 ngày. Hiện nay, Bằng lái xe của tôi đã bị Cảnh sát giao thông tạm giữ. Vậy xin hỏi: Trong thời gian chờ nhận lại Bằng lái xe tôi vẫn điều khiển ô tô để tham gia giao thông, nếu bị kiểm tra thì tôi xuất trình quyết định xử phạt (có nội dung tạm giữ Bằng lái xe) với đơn vị kiểm tra có được không? Và tôi có bị coi là không có Bằng lái xe hay không?

Trả lời có tính chất tham khảo

Trước hết, Giám đốc Sở Tư pháp trân trọng cảm ơn ông Nguyễn K (sau đây gọi tắt là Ông) đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Chuyên mục “Công dân hỏi, Giám đốc Sở trả lời” của Sở Tư pháp. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Giám đốc Sở Tư pháp trả lời thắc mắc theo nội dung thư đề nghị của Ông như sau:

Khoản 1, Điều 25 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong đó có Giấy phép (Bằng) lái xe như sau:“Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề”.

Theo các thông tin mà Ông cung cấp thì Ông đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn vượt quá quy định và đã bị người có thẩm quyền xử phạt hành chính bằng hình thức: Xử phạt chính là phạt tiền 2.500.000 đồng theo quy định tại Điểm a, Khoản 6 và xử phạt bổ sung là tước Giấy phép lái xe 60 ngày theo quy định tại Điểm b, Khoản 12, Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 25/6/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt,không phải là chỉ bị tạm giữ Giấy phép lái xe 60 ngày như cách hiểu của Ông.

Hướng dẫn về tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, Khoản 4, Điều 77 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định như sau: “Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, nếu cá nhân, tổ chức vẫn tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì bị xử phạt như hành vi không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề”.

Như vậy, trong thời gian bị tước và tạm giữ Giấy phép lái xe nếu Ông tiếp tục điều khiển xe ô tô và bị cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra thì việc Ông xuất trình quyết định xử phạt (có nội dung tạm giữ Giấy phép lái xe) với đơn vị kiểm tra là không có giá trị pháp lý và Ông vẫn bị xử phạt như hành vi không có Giấy phép lái xe theo quy định tại Khoản 4, Điều 77 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP như đã nêu trên.

 

Trên đây là nội dung trả lời của Giám đốc Sở Tư pháp đối với nội dung đề nghị tư vấn của ông Nguyễn K. Đề nghị ông Nguyễn K tham khảo, nghiên cứu và vận dụng cho phù hợp./.

 

24. Câu hỏi:

Cho biết sự khác nhau giữa việc chứng nhận bản dịch và chứng thực bản dịch?

Trả lời có tính chất tham khảo

Bản dịch được hiểu là giấy tờ, văn bản được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc chứng thực hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Theo quy định của pháp luật thì bản dịch có thể được công chứng theo quy định của Luật Công chứng hoặc được chứng thực theo quy định của Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Hai hình thức này có sự khác biệt rõ nét.

Công chứng bản dịch theo quy định tại điều 61 của Luật Công chứng 2014 là:

Việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó. Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung của bản dịch do mình thực hiện

Công chứng viên chứng nhận bản dịch có trách nhiệm chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch; chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Chứng thực bản dịch theo quy định của Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch:

Theo quy định tại Điều 30 thì người dịch phải chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước cơ quan thực hiện chứng thực về tính chính xác của nội dung bản dịch; Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực về chữ ký của người dịch trong bản dịch.

Người thực hiện chứng thực theo quy định của Nghị định 23/2015/NĐ-CP bao gồm: Các Trưởng, phó phòng tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn, viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao...

Dựa vào những định nghĩa trên có thể thấy được những điểm khác nhau giữa chứng nhận bản dịch và chứng thực bản dịch:

1. Về pháp luật áp dụng:

+ Chứng nhận bản dịch áp dụng theo Luật Công chứng 2014                           

+ Chứng thực bản dịch áp dụng Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch

2. Về thẩm quyền:

- Về Việc chứng nhận bản dịch phải do Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện

- Chứng thực bản dịch do các Trưởng, phó phòng tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn, viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao thực hiện.

3. Về nội dung:

- Trong chứng thực bản dịch, người dịch phải chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước cơ quan thực hiện chứng thực về tính chính xác của nội dung bản dịch; Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính xác thực về chữ ký của người dịch trong bản dịch.

- Việc chứng nhận bản dịch chú trọng về nội dung, tính chính xác, hợp pháp của bản dịch nên Công chứng viên chứng nhận bản dịch ngoài trách nhiệm chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch thì Công chứng viên còn phải chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, tính pháp lý của việc chứng nhận bản dịch được đánh giá là cao hơn so với việc chứng thực bản dịch.

4.Về yêu cầu đối với giấy tờ, văn bản cần dịch:

- Chứng nhận bản dịch yêu cầu bản chính đối với văn bản, giấy tờ cần dịch.

- Chứng thực bản dịch không yêu cầu bản chính đối với văn bản, giấy tờ cần dịch.

5. Về người phiên dịch:

- Chứng nhận bản dịch yêu cầu người phiên dịch phải là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện và phải đáp ứng đầy đủ điều kiện của một cộng tác viên.

- Đối với việc chứng thực bản dịch thì người dịch có thể là cộng tác viên dịch thuật ký hợp đồng cộng tác viên với Phòng Tư pháp hoặc có thể không là cộng tác viên dịch thuật của Phòng Tư pháp nhưng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện của người dịch như quy định tại điều 27 Nghị định 23/2015/NĐ-CP (như năng lực hành vi dân sự, bằng cử nhân ngoại ngữ cần dịch, hoặc tự chứng minh thông thạo ngôn ngữ cần dịch nếu ngôn ngữ không phổ biến).

Như vậy, bạn có thể dựa vào những đặc điểm của hai hình thức trên để lựa chọn khi có nhu cầu công chứng hoặc chứng thực bản dịch./.

 

23. Câu hỏi:

Tôi là một cá nhân muốn mở một cửa hàng để kinh doanh, xin hỏi khi đăng ký hộ kinh doanhthì tôi cần chuẩn bị những giấy tờ gì, đăng ký ở đâu và trong thời gian bao lâu thì được cấp giấy phép để kinh doanh?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 71 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định:

1. Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơquan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh gồm:

a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh; số điện thoại, số fax, thư điện tử (nếu có);

b) Ngành, nghề kinh doanh;

c) Số vốn kinh doanh;

d) Số lao động;

đ) Họ, tên, chữ ký, địa chỉ nơi cưtrú, số và ngày cấp Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân thành lập hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập, của cá nhân đối với hộ kinh doanh do cá nhân thành lập hoặc đại diện hộ gia đình đối với trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập.

Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao hợp lệ Thẻcăn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình và bản sao hợp lệbiên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.

2. Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ,nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh;

b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợpquy định tại Điều 73 Nghị định này;

c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định.

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh.

3. Nếu sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thi người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Theo quy định trên, khi đăng kýhộ kinh doanhbạn phải gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh có nội dung theo đúng quy định đến cơquan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh, kèm theo bản sao hợp lệ Thẻcăn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lựcvà nộp lệ phí đăng ký theo quy định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơquan đăng ký kinh doanhcấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanhcho bạn./.

 

22. Câu hỏi:

Tôi là chủ Doanh nghiệp tư nhân được thành lập trong năm 2016, vốn đầu tư đã đăng ký là 800 triệu đồng, nay tôi muốn tăng vốn đầu tưlên 1,5 tỷ đồng, xin hỏi tôi phải làm những thủ tục gì?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 50 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định:

1. Trường hợp tăng, giảm vốn đầu tư đã đăng ký, chủ doanh nghiệp tư nhân phải gửi Thông báo về việc thay đổi vốn đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệpđã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuếhoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);

b) Mức vốn đầu tư đã đăng ký, mức vốnđăng ký thay đổi và thời điểm thay đổi vốn đầu tư;

c) Họ, tên, chữký của chủ doanh nghiệp tư nhân.

Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, thay đổi thông tin về vốn đầu tư của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy xác nhận vềviệc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

2. Trường hợp hồ sơ thông báo thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân không hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh thông báo doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc.

3. Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân đến Phòng Đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi. Trường hợp có thay đổi mà doanh nghiệp không thông báo thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Theo quy định, bạnphải gửi Thông báo về việc thay đổi vốn (tăng vốn) đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệpđã đăng kýtheo đúng nội dung quy định. Nếu hồ sơ hợp lệ thì Phòng Đăng ký kinh doanh sẽthay đổi thông tin về vốn đầu tư của doanh nghiệp bạn trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.Trường hợp doanh nghiệp bạn có nhu cầu, Phòng Đăng ký kinh doanh sẽ cấp Giấy xác nhận vềviệc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệpcủa bạn./.

 

21. Câu hỏi:

Chị Vũ Thu H thường trú TP Quy Nhơn hỏi: Tôi đang làm việc tại một doanh nghiệp ở Quy Nhơn. Sắp tới, tôi kết hôn và chuyển về sinh sống cùng chồng tôi tại TP Hố Chí Minh, vì thế tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp hiện tôi đang làm. Tôi có tìm hiểu pháp luật thì được biết, khi chấm dứt hợp đồng lao động thì sẽ được trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc. Tuy nhiên, tôi không hiểu cụ thể lắm về quy định này. Vì vậy, đề nghị Sở Tư pháp tư vấn cho tôi biết trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc có điểm gì giống và khác nhau như thế nào? Trong trường hợp này, nếu tôi chấm dứt hợp đồng lao động thì tôi sẽ được hưởng trợ cấp như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Trước hết, Giám đốc Sở Tư pháp trân trọng cảm ơn chị Vũ Thu H đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn tới Chuyên mục “Công dân hỏi, Giám đốc Sở trả lời” của Sở Tư pháp. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động, Giám đốc Sở Tư pháp tư vấn những thắc mắc theo nội dung thư đề nghị của chị như sau:

Trợ cấp mất việc và trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 48, Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động. Theo đó, điểm giống và khác nhau giữa chế độ trợ cấp thôi việc và chế độ trợ cấp mất việc được pháp luật lao động quy định có thể khái quát qua một số nội dung sau đây:

1. Về điểm giống nhau giữa hai chế độ trợ cấp nêu trên là:

- Cả thôi việc và mất việc là những sự kiện pháp lý được phát sinh trong lĩnh vực lao động cùng dẫn đến hậu quả pháp lý là sự chấm dứt hợp đồng lao động.

- Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc là chế độ đều do người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên.

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. (Theo Nghị định 05/2015/NĐ-CP thì thời gian làm việc được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc).

- Tiền lương để tính trợ cấp là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc hoặc mất  việc làm.

2. Về điểm khác nhau giữa hai chế độ trợ cấp nêu trên là:

a) Về chế độ trợ cấp thôi việc

Được quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động. Theo đó, những trường hợp được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật  Lao độngsau khi chấm dứt hợp đồng lao động sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc. Cụ thể là các trường hợp sau:

- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại Khoản 6, Điều 192 của Bộ luật này. Đó là: “Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ”.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sát nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

          Mức hưởng trợ cấp thôi việc: Mỗi năm làm việc được trợ cấp  một nửa tháng tiền lương. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

b) Về chế độ trợ cấp mất việc

Được quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động. Theo đó, những trường hợp người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động sẽ được hưởng trợ cấp mất việc. Cụ thể là các trường hợp sau:

- Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế.

- Trường hợp mất việc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Mức hưởng trợ cấp mất việc: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm thuộc hai trường hợp nêu trên thì mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

Căn cứ vào những quy định trên, khi chị chuyển nơi ở mà muốn xin nghỉ việc thì thuộc trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động. Do đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động chị sẽ được công ty chi trả trợ cấp thôi việc được quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động nêu trên. Về mức hưởng trợ cấp, chị có thể tham khảo quy định nêu trên.

Trên đây là nội dung trả lời của Giám đốc Sở Tư pháp đối với nội dung xin tư vấn của chị Vũ Thu H. Đề nghị chị Vũ Thu H tham khảo, nghiên cứu và vận dụng cho phù hợp./.

 

20. Câu hỏi:

Trường hợp Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp dân sự mà các bên viện dẫn các tập quán khác nhau thì giải quyết như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo hướng dẫn tại Khoản 1, Mục III Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ thì:

Khi xem xét, quyết định áp dụng tập quán thì Tòa án căn cứ Điều 3, Điều 5 và các quy định khác của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tùy từng trường hợp cụ thể giải quyết như sau:

Tập quán có giá trị áp dụng là tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp có nhiều tập quán thì áp dụng tập quán do các bên thỏa thuận; nếu các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự./.

 

19. Câu hỏi: 

Khi công ty thực hiện giao dịch làm ăn, thì những hợp đồng, giao dịch nào và ký kết với đối tượng nào thì cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 67 của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hợp đồng, giao dịch được Hội đồng thành viên chấp thuận được quy định như sau:

1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận:

a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty;

b) Người có liên quan của những người quy định tại điểm a khoản này;

c) Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ;

d) Người có liên quan của người quy định tại điểm c khoản này.

2. Người ký kết hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch dự định tiến hành. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng thành viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo; trong trường hợp này, hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự tán thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết. Thành viên có liên quan trong các hợp đồng, giao dịch không được tính vào việc biểu quyết.

3. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết không đúng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, gây thiệt hại cho công ty. Người ký kết hợp đồng, giao dịch, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch được ký kết không đúng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này hoặc gây thiệt hại cho công ty./.

 

18. Câu hỏi:

Theo tôi được biết Luật Giám định tư pháp năm 2013 có cho phép thành lập Tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập là Văn phòng Giám định tư pháp. Xin Sở Tư pháp cho tôi biết pháp luật quy định như thế nào về Văn phòng giám định tư pháp và điều kiện để thành lập văn phòng?

Trả lời có tính chất tham khảo

Luật Giám định tư pháp năm 2013 đã mở rộng phạm vi giám định tư pháp để tạo điều kiện cho các đương sự trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luật đã cho phép thành lập tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập là Văn phòng giám định tư pháp với quy định và điều kiện thành lập như sau:

1. Văn phòng Giám định tư pháp (Điều 14):

+ Văn phòng giám định tư pháp là tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, được thành lập trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả.

+ Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do 02 giám định viên tư pháp trở lên thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh.

Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng giám định tư pháp là Trưởng văn phòng. Trưởng văn phòng giám định tư pháp phải là giám định viên tư pháp.

2. Điều kiện thành lập Văn phòng giám định tư pháp (Điều 15)

a) Giám định viên tư pháp được thành lập Văn phòng giám định tư pháp khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Có từ đủ 05 năm trở lên là giám định viên tư pháp trong lĩnh vực đề nghị thành lập Văn phòng;

- Có Đề án thành lập theo quy định của Luật. Trong đó: Đề án thành lập Văn phòng giám định tư pháp phải nêu rõ mục đích thành lập; dự kiến về tên gọi, nhân sự, địa điểm đặt trụ sở; điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giám định theo quy định của bộ, cơ quan ngang bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định và kế hoạch triển khai thực hiện.

b) Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng không được thành lập Văn phòng giám định tư pháp./.

 

17. Câu hỏi:

Tôi mới thành lập Doanh nghiệp. Doanh nghiệp đã bắt đầu đi vào hoạt động kinh doanh, cho tôi hỏi nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 9của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì nghĩa vụ của doanh nghiệp được quy định như sau:

1. Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

2. Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán.

3. Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

4. Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.

5. Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố.

6. Thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê; định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo mẫu quy định; khi phát hiện các thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.

7. Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.

8. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật./.

 

16. Câu hỏi:

Theo tôi biết “Quản tài viên” là một nghề mới ra đời từ khi Luật Phá sản năm 2014 có hiệu lực thi hành? Tôi xin hỏi “Quản tài viên” là gì và có nhiệm vụ, quyền hạn gì trong giải quyết vụ việc phá sản?

Trả lời có tính chất tham khảo

Quản tài viên là chức danh rất mới và là một trong những chế định chung trung tâm của Luật phá sản năm 2014. Luật đã có nhiều quy định về điều kiện hành nghề, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của Quản tài viên. Theo đó:

- Quy định khoản 7,8 Điều 4 Luật phá sản năm 2014 thì:

+ Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.

+ Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.

- Quy định tại Điều 16 Luật Phá sản năm 2014 thì Quản tài viên, Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền và nghĩa vụ trong giải quyết vụ việc phá sản như sau:

1. Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, gồm:

a) Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã;

b) Lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ;

c) Bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi bán, thanh lý tài sản;

d) Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật;

đ) Được thuê cá nhân, tổ chức thực hiện công việc theo quy định của pháp luật;

e) Đề xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm chi phí phá sản;

g) Bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản;

h) Tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cáo cơ quan thi hành án dân sự, thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản có liên quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản;

i) Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng.

2. Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật.

3. Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

4. Đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau:

a) Thu thập tài liệu, chứng cứ;

b) Tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp;

c) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

6. Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự; chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình./.

 

15. Câu hỏi:

Những giấy tờ nào không được làm cơ sở để chứng thực bản sao ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định: Những giấy tờ, văn bản không được làm cơ sở để chứng thực bản sao gồm:

- Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ.

- Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung.

- Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp.

- Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân.

- Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ( khoản 1 Điều 20  Nghị định số 23/2015/NĐ-CP: Người yêu cầu chứng thực phải xuất trình bản chính giấy tờ, văn bản làm cơ sở để chứng thực bản sao và bản sao cần chứng thực. Trong trường hợp bản chính giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật trước khi yêu cầu chứng thực bản sao; trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại).

- Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền./.

 

14. Câu hỏi:

Giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính được pháp luật quy định như thế nào ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính như sau:

- Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Bản sao được chứng thực từ bản chính theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đồng thời để khắc phục tình trạng lạm dụng bản sao trong các thủ tục hành chính, tại Điều 6 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định  trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao:

- Trường hợp pháp luật quy định nộp bản sao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận bản sao, không được yêu cầu bản sao có chứng thực nhưng có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếu có trách nhiệm xác nhận tính chính xác của bản sao so với bản chính.

- Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì không được yêu cầu xuất trình bản chính, trừ trường hợp có căn cứ về việc bản sao giả mạo, bất hợp pháp thì yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh, nếu thấy cần thiết./.

 

13. Câu hỏi:

Công chứng viên của Tổ chức hành nghề công chứng ( Phòng công chứng, Văn phòng công chứng) có thẩm quyền công chứng bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản không ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại khoản 1Điều 77  Luật Công chứng năm 2014:Công chứng viên được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản.

Đồng thời theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị Định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch: Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng.

Như vậy: Ngoài Phòng Tư pháp; UBND cấp xã; Cơ quan đại diện, Công chứng viên của Tổ chức hành nghề công chứng cũng có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản./.

 

12. Câu hỏi:

Văn bản công chứng là gì ? giá trị pháp lý của văn bản công chứng được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 hướng dẫn: Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Công chứng.

Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng, theo Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định như sau:

- Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

- Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch./.

 

11. Câu hỏi:

Công ty tôi muốn hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, xin Sở Tư pháp cho biết điều kiện và trình tự thủ tục đăng ký để doanh nghiệp được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thì:

1. Doanh nghiệp muốn hành nghề quản lý, thanh lý tài sản phải đáp ứng đủ hai điều kiện sau:

Một là, doanh nghiệp phải là công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, công ty hợp danh có tối thiểu hai thành viên hợp danh là Quản tài viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty hợp danh là Quản tài viên; doanh nghiệp tư nhân có chủ doanh nghiệp là Quản tài viên, đồng thời là Giám đốc. Việc thành lập, tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp tuân theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về phá sản;

Hai là, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở.

2. Trình tự thủ tục đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản đối với Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản như sau:

Doanh nghiệp gửi 01 bộ hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến Sở Tư pháp và nộp lệ phí đăng ký hành nghề theo quy định của pháp luật. Hồ sơ gồm:

- Giấy đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo mẫu TP-QTV-05 ban hành kèm theo Nghị định Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản ;

- Bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;

- Bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của thành viên hợp danh, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty hợp danh; bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của những người khác hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong công ty hợp danh (nếu có); bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của chủ doanh nghiệp tư nhân quy định; bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của những người khác hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong doanh nghiệp tư nhân (nếu có);

- Phiếu lý lịch tư pháp của những người nói trên trong trường hợp cần thiết theo yêu cầu của Sở Tư pháp;

* Trường hợp doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trực tiếp tại Sở Tư pháp thì xuất trình bản chính giấy tờ quy định trên để đối chiếu.

* Trường hợp doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản qua đường bưu điện đến Sở Tư pháp khi có yêu cầu thì phải xuất trình bản chính giấy tờ quy định trên.

Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản kể từ ngày được Sở Tư pháp quyết định ghi tên vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản./.

 

10. Câu hỏi:

Khi thành lập doanh nghiệp để hoạt động sản xuất và kinh doanh, Nhà nước có sự bảo đảm đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 5của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được Nhà nước bảo đảm những quyền lợi như sau:

1. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.

2. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.

3. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của doanh nghiệp; trường hợp trưng mua thì doanh nghiệp được thanh toán, trường hợp trưng dụng thì doanh nghiệp được bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm trưng mua hoặc trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp./.

 

9. Câu hỏi:

Có thể yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại và Cơ quan thi hành án dân sự cùng tổ chức thi hành án hay không ?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo mục 2 khoản 13 Điều 1 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ thì:

Trường hợp người được thi hành án được thi hành nhiều khoản khác nhau trong cùng một bản án, quyết định do một người có nghĩa vụ thi hành thì cùng một thời điểm, người được thi hành án chỉ có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự hoặc một Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành. Nếu các khoản được thi hành do nhiều người khác nhau có nghĩa vụ thi hành thì người được thi hành án có quyền đồng thời yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự, Văn phòng Thừa phát lại thi hành riêng đối với từng khoản.

Nếu trong cùng một bản án, quyết định có nhiều người được thi hành án mà trong đó có người yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, có người yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành thì Cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại phải phối hợp với nhau trong thi hành án.

Đối với các vụ việc đã được tổ chức thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án và yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành hoặc ngược lại thì nội dung yêu cầu phải nêu rõ kết quả thi hành trước đó, những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành tiếp và nội dung bảo lưu kết quả thi hành trước đó (nếu có). Văn phòng Thừa phát lại, cơ quan thi hành án dân sự có thể chấp thuận đề nghị bảo lưu kết quả thi hành trước đó của đương sự để làm căn cứ tiếp tục tổ chức thi hành án./.

 

8. Câu hỏi: 

Các bản án, quyết định nào của Tòa án được yêu cầu Thừa phát lại trực tiếp tổ chức thi hành?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo Điều 34 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.thì Thừa phát lại được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau:

- Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt Văn phòng;

- Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt Văn phòng;

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi Thừa phát lại đặt Văn phòng.

Ngoài ra, theo khoản 12 Điều 1 Nghị định số 135/NĐ-CP 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì Thừa phát lại có thể tổ chức thi hành các vụ việc trên ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại nếu đương sự có tài sản, cư trú hay có các điều kiện khác ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại. Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện trong trường hợp Thừa phát lại thi hành án theo thẩm quyền liên quan đến tài sản phát sinh ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại”./.

 

7. Câu hỏi: 

Xin cho tôi hỏi? Tôi đang có ý định thành lập Doanh nghiệp. Tôi muốn đặt tên doanh nghiệp theo ý nguyện của tôi, không biết việc đặt tên có bắt buộc theo một quy định nào không hay tùy thích theo ý của tôi?

Trả lời có tính chất tham khảo

Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì việc đặt tên cho Doanh nghiệp phải tuân theo quy định tại Điều 38 của Luật này cụ thể như sau:

1. Tên tiếng Việt của doanh nghiệp bao gồm hai thành tố theo thứ tự sau đây:

a) Loại hình doanh nghiệp. Tên loại hình doanh nghiệp được viết là “công ty trách nhiệm hữu hạn” hoặc “công ty TNHH” đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; được viết là “công ty cổ phần” hoặc “công ty CP” đối với công ty cổ phần; được viết là “công ty hợp danh” hoặc “công ty HD” đối với công ty hợp danh; được viết là “doanh nghiệp tư nhân”, “DNTN” hoặc “doanh nghiệp TN” đối với doanh nghiệp tư nhân;

b) Tên riêng. Tên riêng được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và kí hiệu.

2. Tên doanh nghiệp phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành.

3. Căn cứ vào quy định tại Điều này và các Điều 39, 40 và 42 của Luật này, Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền từ chối chấp thuận tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp./.

 

6. Câu hỏi: 

Tôi là chủ sở hữu quyền sử dụng đất và nhà tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Nay tôi có nhu cầu cho thuê quyền sử dụng đất và ngôi nói trên, nhưng hiện tại tôi đang làm việc tại thành phố Hải Phòng nên việc đi lại để làm thủ tục cho thuê nhà rất khó khăn. Vậy nay tôi muốn ủy quyền cho một người khác tại Bình Định đứng ra làm thủ tục cho thuê nhà thì tôi phải làm như thế nào để công chứng giấy ủy quyền mà tôi không phải về Bình Định.

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 55 của Luật Công chứng năm 2014 quy định công chứng hợp đồng ủy quyền: Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.

Theo quy định nêu trên thì người ủy quyền có thể đến tổ chức hành nghề công chứng tại nơi mình cư trú (Hải Phòng) để yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền cho bên ủy quyền, sau đó người được ủy quyền đến tổ chức hành nghề công chứng tại Bình Định để yêu cầu công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền mà đã được anh yêu cầu công chứng tại thành phố Hải Phòng trước đó, để công chứng chữ ký bên được ủy quyền. Như vậy, thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền đã được hoàn tất./.

 

5. Câu hỏi: 

Ông Trần Văn A Văn phòng Công chứng B có hỏi: Văn phòng Công chứng của tôi đang hoạt động theo loại hình Doanh nghiệp tư nhân do một công chứng viên thành lập. Nay tôi muốn chuyển đổi Văn phòng sang loại hình Công ty hợp danh theo Luật Công chứng năm 2014 thì thủ tục thực hiện như thế nào?

Trả lời có tính chất tham khảo

Căn cứ Điều 19 Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn một số Điều của Luật Công chứng năm 2014 quy định trình tự thủ tục” như sau:

Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập chuyển đổi theo quy định tại năm 2014 nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 (một) bộ hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động.

Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây:

a) Giấy đề nghị chuyển đổi Văn phòng công chứng;

b) Báo cáo tình hình tài chính, tổ chức, hoạt động, hồ sơ công chứng hiện đang lưu trữ tại Văn phòng công chứng đề nghị chuyển đổi;

c) Quyết định bổ nhiệm công chứng viên của công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng đề nghị chuyển đổi (bản sao có chứng thực hoặc bản chụp kèm theo bản chính để đối chiếu).

Về thời hạn giải quyết: Trong thời hạn 14 ngày làm việc,  trong đó:

Tại Sở Tư pháp: 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển đổi Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu  rõ lý do.

Tại UBND tỉnh: 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển đổi Văn phòng công chứng; trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

* Sau khi có quyết định cho phép chuyển đổi của UBND tỉnh, trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định cho phép chuyển đổi, Văn phòng công chứng chuyển đổi phải nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính 01 (một) bộ hồ sơ đăng ký hoạt động đến Sở Tư pháp.

Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau đây:

a) Đơn đăng ký hoạt động;

b) Quyết định cho phép chuyển đổi Văn phòng công chứng (bản sao có chứng thực hoặc bản chụp kèm theo bản chính để đối chiếu);

c) Giấy tờ chứng minh về trụ sở mới của Văn phòng công chứng chuyển đổi trong trường hợp Văn phòng công chứng thay đổi trụ sở.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng chuyển đổi; trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do./.

 

4. Câu hỏi: 
“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.

Trả lời có tính chất tham khảo

Sau khi nghiên cứu nội dung đề nghị hướng dẫn của Công ty, căn cứ các quy định của Luật Thương mại năm 2005; Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại và Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06/7/2007 của liên Bộ: Thương mại - Tài chính Hướng dẫn thực hiện một số điều về khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, Giám đốc Sở Tư pháp Bình Định hướng dẫn như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Mục 2 của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC quy định hình thức, thủ tục khuyến mại thì:

“1. Các hình thức khuyến mại phải được thông báo bằng văn bản đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại, bao gồm:

a) Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;

b) Tặng hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền kèm theo hoặc không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

c) Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó;

d) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ;

đ) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố;

e) Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên;

g) Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

2. Thông báo thực hiện khuyến mại

Chậm nhất 07 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại, thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mại nêu tại khoản 1 Mục này phải gửi thông báo bằng văn bản (theo mẫu KM-1 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này) đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại. Khi tiếp nhận hồ sơ thông báo thực hiện khuyến mại, Sở Thương mại ghi Giấy biên nhận hồ sơ. Giấy biên nhận hồ sơ được lập thành 02 bản (theo mẫu KM-4 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này), 01 bản giao cho thương nhân thực hiện khuyến mại và 01 bản lưu tại Sở Thương mại (không áp dụng đối với trường hợp hồ sơ được gửi qua đường bưu điện);”.

Nội dung của Thông tư liên tịch này không quy định về việc phải cung cấp hóa đơn bán hàng hay công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại thì có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thì thực hiện chương trình khuyến mại. Cụ thể:

- Khoản 4, Điều 4 quy định nguyên tắc thực hiện khuyến mại thì: “Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại”;

- Điều 5 quy định hạn mức tối đa về giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại: “1. Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại bằng các hình thức quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 13 Nghị định này.

2. Tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại bằng hình thức quy định tại Điều 7 Nghị định này.

3. Giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là chi phí mà thương nhân thực hiện khuyến mại phải bỏ ra để có được hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại tại thời điểm khuyến mại, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

          a) Thương nhân thực hiện khuyến mại không trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hàng hoá hoặc không trực tiếp cung ứng dịch vụ dùng để khuyến mại, chi phí này được tính bằng giá thanh toán của thương nhân thực hiện khuyến mại để mua hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại.

b) Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hoá của thương nhân đó trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hoặc cung ứng dịch vụ, chi phí này được tính bằng giá thành hoặc giá nhập khẩu của hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại”;

- Điều 6 quy định mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại: “Mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hoá, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại”.

- Khoản 2, Điều 16 quy định trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại bằng hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi thì “Hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại bao gồm:

“a) Văn bản đề nghị thực hiện chương trình khuyến mại theo mẫu của Bộ Thương mại. Nội dung đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, bao gồm: tên chương trình khuyến mại; địa bàn khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại; hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại; thời gian khuyến mại; khách hàng của chương trình khuyến mại;

b) Thể lệ chương trình khuyến mại;

c) Mẫu vé số dự thưởng đối với chương trình khuyến mại có phát hành vé số dự thưởng;

d) Hình ảnh hàng hóa khuyến mại và hàng hóa dùng để khuyến mại;

đ) Mẫu bằng chứng trúng thưởng (nếu có);

e) Bản sao giấy xác nhận về chất lượng của hàng hóa khuyến mại, hàng hóa dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật (nếu có)”.

Do nội dung Văn bản đề nghị hướng dẫn của Công ty không nêu rõ về hình thức khuyến mại, mặt hàng khuyến mại nên Sở Tư pháp không rõ Công ty thực hiện việc khuyến mại theo hình thức gì, mặt hàng loại nào. Tuy nhiên, về nguyên tắc thì chung thì khi thực hiện khuyến mại cần phải xác định được giá trị hàng hóa (thông qua hình thức hóa đơn đầu vào) để làm cơ sở cho việc xem xét, hạn mức tối đa; mức giảm tối đa và chất lượng hàng hóa (thông qua việc phải có bản sao giấy xác nhận về chất lượng của hàng hóa khuyến mại, hàng hóa dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật hoặc công bố chất lượng sản phẩm) để xác định rõ chất lượng sản phẩm khuyến mại. Vì vậy, việc các cơ quan đề nghị Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm khi thực hiện chương trình khuyến mại là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật. /.

 

3. Câu hỏi: 
Tôi là chủ doanh nghiệp tư nhân, trong quá trình kinh doanh tôi muốn bổ sung thêm một số ngành nghề kinh doanh, xin hỏi pháp luật quy định như thế nào khi doanh nghiệp bổ sung ngành nghề kinh doanh?

Trả lời có tính chất tham khảo

Điều 49 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định về việc thông báo bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh như sau:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);

c) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp,

2. Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, bổ sung, thay đổi thông tin về ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

4. Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo thay đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh với Phòng Đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi. Trường hợp có thay đổi mà doanh nghiệp không thông báo thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư./.

 

2. Câu hỏi: 
Tôi là giám đốc công ty TNHH 2 thành viên, hiện nay do điều kiện kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tôi muốn tạm ngừng kinh doanh một thời gian rồi mới hoạt động trở lại, xin hỏi pháp luật quy định công ty phải làm những thủ tục gì?

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp đồng thời gửi Thông báo tạm ngừng hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đã đăng ký.

3. Trường hợp doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, kèm theo thông báo phải có quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.

Theo như quy định trên, trước khi công ty của bạn ngừng kinh doanh, công ty bạn phải gửi văn bản thông báo tạm ngừng kinh doanh, kèm theo quyết định và biên bản họp của Hội đồng thành viên công ty bạn đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty đã đăng ký để tạm ngừng hoạt động./.

 

1. Câu hỏi: 

Công ty bán đấu giá tài sản chúng tôi hiện có bổ sung thêm 01 đấu giá viên, như vậy Công ty có phải thực hiện việc đăng ký danh sách đấu giá viên không? Nếu đăng ký thì đăng ký ở đâu?

Trả lời có tính chất tham khảo

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 23/2010/TT-BTP ngày 06/12/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản thì “ Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện đăng ký danh sách đấu giá viên và việc thay đổi, bổ sung danh sách đấu giá viên của tổ chức mình tại Sở Tư pháp nơi tổ chức bán đấu giá tài sản đặt trụ sở chính; đăng ký danh sách đấu giá viên, thay đổi, bổ sung đấu giá viên của chi nhánh của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản tại Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở của chi nhánh.

Hồ sơ đăng ký gồm một bộ giấy tờ sau đây:

a) Văn bản đề nghị của tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, kèm theo danh sách đấu giá viên;

b) Bản sao Chứng chỉ hành nghề đấu giá;

c) Bản sao quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động. 

2. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Tư pháp ghi vào sổ theo dõi về việc đăng ký đấu giá viên, bổ sung, thay đổi đấu giá viên và thông báo bằng văn bản cho tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp”

Như vậy, trong trường hợp bổ sung đấu giá viên thì Công ty phải thực hiện Đăng ký đấu giá viên, trình tự và thủ tục đăng ký thực hiện như quy định trên./.

 

Câu hỏi: 

Công ty bán đấu giá tài sản chúng tôi hiện có bổ sung thêm 01 đấu giá viên, như vậy Công ty có phải thực hiện việc đăng ký danh sách đấu giá viên không? Nếu đăng ký thì đăng ký ở đâu?

 

Câu hỏi: 

“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.
Câu hỏi: 

“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.
Câu hỏi: 

“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.
Câu hỏi: 

“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.

 

Câu hỏi: 

“Theo hướng dẫn chi tiết tại Khoản 1, Khoản 2, Mục II của Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC, trình tự, thủ tục để thực hiện khuyến mại chỉ cần gởi thông báo đến Sở Công thương của tỉnh, thành phố nơi thực hiện chương trình mà không cần thêm bất cứ thủ tục hành chính nào khác. Cách hiểu này có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Trong thời gian vừa qua có một số cơ quan yêu cầu Công ty phải có hóa đơn đầu vào của hàng hóa và các công bố tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Trong khi, các sản phẩm của Công ty không thuộc nhóm hàng hóa phải công bố hợp quy. Công ty có cần phải cung cấp thêm hóa đơn và công bố chất lượng sản phẩm khi thực hiện khuyến mại hay không?”.


     HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
  • Bộ Trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long - Trưởng đoàn công tác Bộ Tư pháp ủng hộ đồng bào tỉnh Bình Định bị thiệt hại do cơn bão số 12
  • Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp tổ chức Gặp mặt Ngày phụ Nữ Việt Nam 20/10
  • Lễ trao Quyết định nghỉ hưu cho đồng chí Võ Thị Thu Sương
  • Đồng chí Lê Văn Toàn – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bình Định trao tặng quà cho đồng chí Khăm-bang Pha-sá-vèng – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Sekong
  • Nhân kỷ niệm 72 năm ngày truyền thống Ngành Tư pháp (28/8/1945 - 28/8/2017), đồng chí Nguyễn Thanh Tùng – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Văn phòng Tỉnh ủy Bình Định; Bưu Điện tỉnh Bình Định gửi hoa chúc mừng Sở Tư pháp BĐ
  • Sở Tư pháp Bình Định tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm 6 tháng cuối năm 2017
  • Sở Tư pháp tỉnh Bình Định và Đoàn công tác Sở Tư pháp tỉnh Champasak, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
  • Sở Tư pháp tỉnh Bình Định đã tặng Sở Tư pháp Champasak 8 bộ máy vi tính, 2 máy in
  • Ban Điều hành và các thành viên mô hình Sở Tư pháp Bình Định an toàn về an ninh trật tự
  • Nam vận động viên Đoàn viên Công đoàn Sở Tư pháp (đứng vị thứ 8, tính từ phải sang trái) đạt giả Khuyến khích tham gia Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Nữ vận động viên Đoàn viên Công đoàn Sở Tư pháp (đứng vị thứ 2 và 6 tính từ phải sang trái) đạt giải Khuyến khích tham gia Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Vân động viên Công đoàn Sở Tư pháp (nữ, áo màu xanh) đạt giải Khuyến khích toàn đoàn, Giải việt dã Công đoàn viên chức tỉnh lần thứ IV - năm 2017
  • Ban chấp hành Chi đoàn Sở Tư pháp khóa XI, nhiệm kỳ 2017 - 2019
  • Công đoàn Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm kỷ niệm 107 năm ngày quốc tế phụ nữ 08/3/1910 - 08/3/2017
  • Công đoàn Sở Tư pháp tổ chức Tọa đàm kỷ niệm 107 năm ngày quốc tế phụ nữ 08/3/1910 - 08/3/2017
  • Giám đốc Sở Tư pháp trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Tư pháp” của Bộ Tư pháp cho các cá nhân đã có nhiều công lao, đóng góp xây dựng ngành Tư pháp Việt Nam
  • Giám đốc Sở Tư pháp trao bằng khen của Bộ Tư pháp cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tư pháp năm 2016
  • Đồng chí Trần Châu, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác PBGDPL năm 2016
  • Giao lưu bóng đá Chi đoàn Sở Tư pháp - Chi cục THADS - Viện Kiểm sát - Phòng PA83 CA Tỉnh
  • Hội Công chứng viên tỉnh Bình Định chụp ảnh lưu niệm
  • Lễ ký kết Quy chế phối hợp công tác giữa Sở Tư pháp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định
  • Công đoàn viên chức cơ sở Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ 2012 - 2017
     THÔNG BÁO
     VIDEO
Công dân hỏi - Giám đốc sở trả lời
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
Số điện thoại liên hệ cấp LLTP
Dich vụ cấp phiếu LLTP trực tuyến
Đánh giá trực tuyến
Dịch vụ công trực tuyến
Lấy ý kiến VBQPPL
Quyết định hủy Giấy CNQSDĐ
Danh bạ điện thoại và Email
Tiềm hiểu pháp luật trực tuyến
     SỐ LƯỢT TRUY CẬP
  Đang online:               44
  Số lượt truy cập: 883577
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ TƯ PHÁP TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trụ sở: 139 Lê Lợi - TP.Quy Nhơn - Bình Định
Điện thoại: 056.3813905 - Fax: 056.3823772. Email: sotuphap@stp.binhdinh.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Lê Văn Toàn - Giám đốc Sở Tư pháp